Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011


ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II : Vị giáo hoàng đại kết toàn cầu

 Tác giả bài viết: Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Đức Gioan Phaolô II : Vị giáo hoàng đại kết toàn cầu
Đức Gioan Phaolô II : Vị giáo hoàng đại kết toàn cầu
Dù lịch sử thế giới không biết tới hay dù biết nhưng không hề đả động gì tới mối liên quan giữa Bí Mật Fatima 1917 với biến cố “Nước Nga trở lại” 1991, nhưng nó vẫn không thể nào phủ nhận được sự kiện Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bị ám sát tại Quảng Trường Thánh Phêrô vào ngày Thứ Tư 13/5/1981, đúng vào ngày kỷ niệm Đức Mẹ lần đầu tiên với 3 em thiếu nhi ở Fatima.



Sức khỏe của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bắt đầu bị suy giảm kể từ ngày 13/5/1981, ngày ngài bị ám sát mà không chết và được đem vào bệnh viện lần đầu tiên trong giáo triều của ngài.
Agca, 47 tuổi, đang ở trong nhà tù tại Istanbul được canh phòng cẩn mật tối đa, vì tội sát nhân và cướp bóc sau khi bị tù ở Ý 19 năm bởi tội cố sát giáo hoàng. Thẩm quyền Ý đã ân xá cho anh ta theo lời yêu cầu của Đức Giáo Hoàng vào năm 2000.
Hôm Thứ Ba 5/4/2005, Agca đã đệ đơn xin tạm ân dung một thời gian ngắn là những gì vốn được luật pháp Thổ Nhĩ Kỳ cho phép một số phạm nhân thường để cho họ dự lễ án táng của thân nhân trong gia đình.
Luật sư của Agca là Mustafa Demirdag đã nói với hãng thông tấn Reuters rằng: “Đơn của chúng tôi đã bị bác. Dường như đây là việc do chính phủ tác động. Chúng tôi không đủ thời gian để khiếu nại trước lễ an táng. Mehmet Ali sẽ cảm thấy rất buồn khi anh ta nghe được tin này”.
Agca đã viết “một bức thư ngỏ gửi cho thế giới”, trong đó, anh lập lại rằng anh ta là “vị thiên sai thứ hai”. Anh ta viết về cái chết của ĐTC GPII như sau: “Tôi đã mất đi một người anh tinh thần. Tôi chia sẻ nỗi thương tiếc với thành phần Kitô hữu Công giáo của tôi”.
Luật sư của anh ta cho biết thêm rằng gia đình của anh ta vẫn có thể tham dự lễ an táng này hôm Thứ Sáu 8/4/2005. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tiếp người anh và bà mẹ của anh ta ở Vatican nhiều năm trước đây.
Trong bức thư ngỏ cùng thế giới, anh ta còn viết: “Dự án thần linh đã đạt được mục đích của mình. Bởi thế chúng ta đang ở vào ngày cùng tận của thế giới”. Anh ta còn cho biết anh ta đang viết lại Thánh Kinh và sẽ sớm tiết lộ “Bí mật Fatima”.
Qua nhiều năm tháng, Agca đã đưa ra những lý do xung khắc nhau về việc anh ta cố sát Đức Gioan Phaolô II, bao gồm cả những điều tố giác về một cuộc âm mưu với mật vụ cộng sản nước Bulgaria và tình báo KGB Nga, một sự kiện đã được
Agca thuộc về đảng chiến quân thiên hữu ở Thổ Nhĩ Kỳ vào cuối thập niên 1970 và đã bị tù về tội sát hại một viên chủ bút nhật báo cấp tiến năm 1979.
Trước năm sang Rôma, anh ta đã thoát ngục nhờ sự giúp đỡ của những tay an ninh Thổ Nhĩ Kỳ có cảm tình với đảng phái của anh ta. Chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ luôn phủ nhận có bất cứ liên hệ nào với Agca và phủ nhận việc hắn bị bệnh loạn trí.
Kẻ ám sát ngài đây là một người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi giáo tên là Ali Agca, một tay đánh thuê giết mướn cho một thế lực mà chính bản thân không biết rõ. Sau lời yêu cầu xin ân xá của Đức Thánh Cha, anh ta đã được tha án 19 năm tù ở Ý và được thả ra vào ngay trong Đại Năm Thánh 2000. Trong cuộc điều tra về động lực thúc đẩy anh ta ra tay hạ thủ ĐTC, có lần anh ta cho biết là mật vụ cộng sản nước Bulgaria, một quốc gia mà vào chuyến tông du năm 2002 ở Sofia, ĐTC đã làm sáng tỏ vấn đề nước này không hề dính dáng gì tới âm mưu sát hại ngài cả. 
Hiện nay, tay thủ phạm này vẫn còn bị chính phủ của mình nhốt ngục vì hai tộc ác khác là giết một ký giả đồng hương và tội trộm cướp, sau khi được ân xá ở Ý. Hôm Thứ Sáu 4/2/2005, tờ nhật báo Vatan ở Ankara Thổ Nhĩ Kỳ đã trích lại những lời của tay thủ phạm tín đồ Hồi giáo này viết nhắn gửi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II như sau:
“Ngài và tôi, cả hai chúng ta đều chịu khổ đau trong việc cố gắng để truyền đạo trên khắp thế giới. Tôi hy vọng rằng ngài sẽ được bình phục một ngày gần đây. Chúng ta đang tiến đến ngày cùng tháng tận của thế giới. Thế hệ này là giòng dõi cuối cùng. Tôi hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ ban cho ngài sức mạnh và sinh lực”.
Vị giám đốc văn phòng báo chí này còn cho biết thêm rằng những trang kết được ngài dùng để diễn tả về việc ám sát ngài ngày 13/5/1981 “không phải chỉ là một thứ thêm thắt thuần túy, mặc dù thể thức khác với toàn bộ cuốn sách; chúng có giọng điệu của một con người nói về một kinh nghiệm đã thực sự trải qua. Vị Giáo Hoàng này muốn mở lòng mình ra và cắt nghĩa ngài đã cảm nghiệm và đang cảm nghiệm thấy sự dữ đó ra sao”.
Vị giám đốc văn phòng báo chí tòa thánh còn nói: “Đức Giáo Hoàng tin rằng Ali Agca không hành động một cách tình cờ”. Theo vị giám đốc này thì ở lời kết, “tư ụkhi ở trong tù được nói chuyện với Đức Giáo Hoàng, người ta thấy Ali Agca đã hoàn toàn bị ám ảnh ra sao với mầu nhiệm Fatima. Ở chỗ, anh ta không thể nào hiểu được có một cái gì đó đáng lẽ anh ta phải làm chủ về phương diện kỹ thuật trong cuộc tấn công Giáo Hoàng lại không xẩy ra như dự định. Ali Agca chỉ quan tâm tới những vấn đề về kỹ thuật mà thôi chứ không phải những vấn đề về luân lý”. Vị giám đốc này tiết lộ cho biết là kẻ ám sát này “không hề xin Đức Giáo Hoàng thứ tha”.
ĐHY Ratzinger đã cho biết Đức Giáo Hoàng đã nói về Agca như là “nạn nhân của một thứ lý lẽ lỏng lẻo bất toàn xét về mọi khía cạnh. Anh ta là một người Hồi giáo, và có lẽ cũng vì thế mà anh ta đã rơi vào một cơn lốc sợ hãi làm cho anh ta không bao giờ thoát khỏi, vì anh ta tiếp tục tin rằng anh ta là một phần của điềm báo trong phần bí mật Fatima thứ ba. Thế nhưng, ngoài những suy đoán này ra, Agca đã không bao giờ tự hỏi mình về những gì anh ta làm, sự kiện rõ ràng về cuộc ám sát vị Giáo Hoàng này chưa hề làm cho anh ta cảm thấy phiền hà gì hết. Anh ta chỉ quan tâm có một điều duy nhất thực sự đó là anh ta đã bị hụt mất mục tiêu”.
Được các ký giả hỏi về việc có nhận được những bức thư của tay ám sát ĐTC hay chăng, ĐHY Ratzinger cho biết rằng ngài đã nhận được các bức thư của Mehmet Ali Agca:
“Anh ta cũng đã viết thư cho tôi mà nói rằng: ‘Xin nói cho tôi mầu nhiệm Fatima này là gì’. Ali Agca tin rằng nơi mầu nhiệm này anh ta sẽ tìm thấy câu giải đáp về kỹ thuật cho một mầu nhiệm không thể nào hiểu nổi, đó là cái lý do tại sao cuộc tấn công ĐGH không thành. Thế nhưng, như ai cũng đã quá biết, cái liên hệ duy nhất giữa Agca với Fatima là ngày 13/5, và những gì anh ta suy nghĩ chỉ hạn hẹp ở mức độ này thôi”.
Vào ngày 15/2, tức sau khi Nữ Tu Lucia, vị thụ khải Fatima cuối cùng qua đời, anh ta đã gửi cho một tờ nhật báo một bản văn mang tựa đề “Bức Thư Ngỏ với Vatican”. Trong bản văn này, anh ta bày tỏ niềm cảm thông với việc qua đời của vị nữ tu này, và nhấn mạnh rằng bí mật Fatima có liên quan đến ngày tận thế, và yêu cầu Vatican vạch mặt tên Phản Kitô (Quỉ Vương).
Vị giám đốc văn phòng báo chí tòa thánh, sau buổi ra mắt tác phẩm của ĐTC, đã cho các phóng viên truyền hình biết nhận định của mình về anh ta như sau: “Chúng là những cơn mê sảng, một thứ ám ảnh đã từng đeo đuổi Ali Agca nhiều năm trời”.
Trong lời kết của cuốn sách, ĐGH đã nhận định về giây phút bị ám sát như sau: “Tất cả đều là chứng tỏ ân sủng thần linh: Agca đã biết bắn ra sao và chắc chắn anh ta bắn phải chết. Dường như có ai đã làm lệch đi viên đạn được bắn tới”.
Cuốn sách này cũng bao gồm cả cuộc nói chuyện giữa Đức Giáo Hoàng và vị thư ký riêng của ngài là ĐTGM Stanislaw Dziwisz về biến cố thê lương ấy. ĐTC viết trong phần cuối sách rằng: “Tôi có cảm giác rằng tôi sẽ sống sót: Tôi cảm thấy đớn đau, tôi đã có lý để lo sợ, nhưng tôi đã có cảm giác tin tưởng lạ lùng này. Tôi nói với Don Stanislaw rằng tôi tha thứ cho kẻ tấn công”.
Phần cuối sách này cũng đề cập tới chứng từ về việc Đức Gioan Phaolô II viếng thăm Ali Agca trong tù vào dịp Giáng Sinh 1983: “Ali Agca, như mọi người nói, là một tay sát thủ lành nghề. Điều này có nghĩa là cuộc tấn công không phải do anh ta khởi xướng mà là một ai đó âm mưu, một ai đó truyền khiến.
Trong suốt cuộc gặp gỡ này rõ ràng là Ali Agca cứ tiếp tục ngẫm nghĩ tại sao cuộc tấn công lại có thể bất thành được chứ. Có lẽ Ali Agca trực giác thấy rằng, ngoài quyền lực của mình, ngoài khả năng bắn hạ, còn có một quyền lực cao tay hơn thế nữa. Để rồi anh ta bắt đầu tìm kiếm quyền năng này. Tôi hy vọng rằng anh ta đã tìm thấy quyền năng ấy”.
Căn cứ vào những chi tiết mới nhất từ tác phẩm “Hồi Niệm và Căn Tính” của ĐTC GPII về vụ ngài bị ám sát, một ủy ban của quốc hội Ý đã quyết định mở lại hồ sơ vụ này. Vị chủ tịch của Ủy Ban Điều Tra của Quốc Hội này là ông Paolo Guoffanti đã cho các cơ quan Ý biết hôm Thứ Tư 23/2/2004 là “Chúng tôi sẽ lập tức mở lại vụ tấn công Đức Giáo Hoàng này”.
Ông này nói thêm là cuộc tái điều tra ấy sẽ được bắt đầu bằng “việc thu tích hồ sơ theo thủ tục liên quan đến tội ác ghê tởm ấy, bằng cách mở lại đạo lộ Nga Sô, cả KGB lẫn GRU” là cơ quan tình báo quân sự của Nga. Vị chủ tịch này khẳng định là quyết định tái điều tra vụ này được thực hiện “sau những điều được chính Đức Giáo Hoàng chứng thực về nguồn gốc ý hệ của tội ác này”.
Hôm 30/3/2005, tờ nhật báo Corriere della Sera ở Ý cho biết chính quyền Đức mới tìm thấy hồ sơ ám sát ĐTC GPII ở sở mật vụ Stasi của cộng sản Đông Đức trước đây, một cơ quan có nhiệm vụ phối hợp công tác và sau khi thi hành thủ đoạn thì phi tang tất cả mọi sự để không ai có thể biết được kẻ chủ mưu là ai. Theo hồ sơ này thì tình báo của Bulgaria được lệnh từ mật vụ KGB của Nga phải thi hành âm mưu ám sát vị giáo hoàng đã là nhân vật trở thành mối nguy cơ cho cộng sản từ ngày ngài về Balan lần đầu tiên 6/1979. Tuy nhiên, tình báo Bulgaria đã muốn ném đá giấu tay nên thuê tay sát thủ Mehmet Ali Agca để thi hành lệnh trên. Theo tờ báo này thì chính quyền Đức chẳng những đã trao hồ sơ ám sát ĐGH cho chính quyền Bulgaria đương nhiệm, mà còn gửi phóng ảnh tập hồ sơ vô cùng quí giá và hệ trọng này cho cả ủy ban của Quốc Hội Ý là ủy ban lãnh trách nhiệm điều tra hoạt động tình báo của các nước cộng sản Đông Âu tại Ý.
Về phần mình, vào ngày 13/6/2000, ĐTC GPII đã bày tỏ vào lòng biết ơn đối với Tổng Thống Ý đã ân xá cho tay ám sát ngài là Ali Agca ngày 13/5/1981 theo lời ngài yêu cầu trước đó, tay ám sát đã được ngài đến thăm trong nhà tù Rebibbica ngày 27/12/1983 và đã tha cho anh ta ngay khi ngài thấy mình còn sống ở bệnh viện sau cuộc ám sát.
Cả thế giới đã chứng kiến, qua truyền hình, biến cố vị giáo hoàng “đến từ một xứ sở xa xăm” là Balan này bị ám sát, và đã thấy được sự kiện tay sát thủ mạng sống ngài đã được ân xá vào Đại Năm Thánh 2000 của Giáo Hội Công giáo, nghĩa là đã thấy được tấm lòng rộng lượng bao dung tha thứ của vị giáo hoàng này, vị giáo hoàng đã thực hiện đúng lời Chúa dạy là chủ động, dù mình là nạn nhân chứ không phải tác nhân, đi làm hòa với “kẻ có điều gì với các con” (Mt 5:23), không cần phải đợi đến khi họ lên tiếng xin lỗi mình mới tha.
Vị giáo hoàng của Lòng Thương Xót Chúa này, ngoài việc tha thứ có tính cách cá nhân như thế, cũng đã thực hiện một cử chỉ chưa từng thấy trong lịch sử Giáo Hội Công giáo, đó là việc ngài thực hiện Ngày Tha Thứ, Chúa Nhật 12/3/2000, Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay, và chính thức công khai nhân danh Giáo Hội lên tiếng xin lỗi và thứ lỗi, xin lỗi về những gì con cái mình đã lầm lỗi trong quá khứ và hiện tại, và thứ lỗi về tất cả những gì Giáo Hội Công giáo phải chịu trong giòng lịch sử.
Thật thế, trong Tông Thư Tiến Đến Ngàn Năm Thứ Ba, văn kiện hướng dẫn Giáo Hội hoàn vũ long trọng dọn mừng Đại Năm Thánh 2000, Năm Đại Hồng Ân của Thiên Chúa, ĐTC GPII chẳng những kêu gọi thế giới về vấn đề tha nợ hay giảm nợ nần quốc tế cho nhau (ở khoản 51), mà còn kêu gọi chính Giáo Hội cũng thực hiện một cử chỉ xin lỗi và thứ lỗi nữa, như ở khoản 35 và 36 dưới đây (những chỗ in nghiêng và đậm là để nhấn mạnh đến ý tưởng chính).
“Một chương lịch sử đau thương khác mà các đứa con nam nữ của Giáo Hội phải quay về với một tinh thần thống hối, đó là chương lịch sử, nhất là trong một số thế kỷ, về việc chiều theo tính bất nhẫn, và ngay cả việc dùng bạo lực, để phụng sự cho chân lý.
“Đúng thế, một phán đoán chính xác có tính cách lịch sử không thể nào lại cố tình bỏ qua việc tìm hiểu cẩn thận bối cảnh văn hóa của thời đại, một phán đoán mà căn cứ vào đó nhiều người lòng ngay lại chủ trương rằng, việc làm chứng thực sự cho chân lý có thể bao gồm cả việc đàn áp những ý kiến của kẻ khác, hay ít là không để ý gì đến những ý kiến đó. Nhiều yếu tố thường trùng hợp để tạo nên những giả thuyết biện minh cho việc bất nhẫn, đồng thời nung nấu một bầu khí sôi động, mà chỉ có tinh thần cao cả, thật sự tự do và đầy Thiên Chúa, mới có thể giải tỏa bằng một cách nào đó. Mặc dù có xét đến những căn cớ để làm cho sự việc nhẹ hơn đi nữa, thì Giáo Hội cũng không thể nào được miễn trừ khỏi việc cần phải tỏ ra một niềm tiếc xót sâu xa, đối với những yếu đuối của rất nhiều con cái nam nữ của mình, đã làm ám muội đi dung nhan Giáo Hội, khiến Giáo Hội không hoàn toàn phản chiếu hình ảnh của một vị Chúa tử giá là mẫu chứng siêu việt cho một tình yêu nhẫn nhịn và một đức hiền lành khiêm hạ. Từ những giây phút quá khứ đau thương này, có thể rút ra một bài học cho tương lai, dẫn tất cả mọi Kitô hữu đến việc hoàn toàn gắn chặt lấy nguyên tắc mà Công Đồng đã phát biểu: ‘Chân lý không thể nào tự mình áp đặt, ngoại trừ vì chính sự xác thực của nó, nếu nó muốn dùng cả sự dịu dàng lẫn mãnh lực để chiếm lấy tâm trí con người’ (tuyên ngôn Dignitatis Humanae, về tự do tôn giáo, đoạn 1)” (khoản số 35).
“Nhiều vị hồng y và giám mục đã tỏ ý muốn, trước hết, phải có một cuộc khảo sát lương tâm cẩn thận về phía Giáo Hội hôm nay. Trước ngưỡng cửa của một tân thiên niên, Kitô hữu cần phải khiêm tốn đặt mình trước nhan Chúa, xét mình về trách nhiệm mà họ cũng phải gánh chịu đối với những sự dữ của thời điểm chúng ta. Thật vậy, tuy có nhiều sáng sủa, thời hiện đại này cũng không phải là không có ít nhiều bóng tối.
“Chẳng hạn, chúng ta làm sao có thể giữ im lặng về tình trạng lạnh nhạt đạo đức làm cho nhiều người hiện nay sống như không có Thiên Chúa, hay sống theo một lòng đạo mơ hồ, không có khả năng nắm vững vấn đề chân lý, cần phải trước sau như một. Thêm vào đó, còn phải kể đến tình trạng mất đi một cách sâu rộng cái ý nghĩa siêu việt về sự sống con người, cũng như phải kể đến tình trạng lẫn lộn trong lãnh vực đạo lý, ngay cả về những giá trị căn bản trong việc tôn trọng sự sống và gia đình. Về mặt này, ngay những người con nam nữ của Giáo Hội nữa cũng cần phải xét mình lại. Họ đã bị nhuốm phải bầu khí của phong trào tục hóa (secularism) và khuynh hướng đạo lý tương đối (ethical relativism) đến đâu? Và họ phải gánh chịu trách nhiệm nào trong việc làm cho tình trạng thiếu lòng đạo tăng lên, vì họ không chứng tỏ được dung nhan chân thật của Thiên Chúa, bởi đã ‘không sống theo cuộc sống tôn giáo, luân lý hay xã hội của mình’ (hiến chế Gaudium et Spes, đoạn 19)? 
“Không thể nào phủ nhận được rằng, đối với nhiều Kitô hữu, cuộc sống tâm linh của họ đang trải qua một thời gian chao đảo, gây ảnh hưởng cho chẳng những đời sống luân lý của họ mà cả đến đời sống cầu nguyện cũng như tư tưởng đúng đắn về thần học theo đức tin của ho nữạ. Đức tin, bị thử thách bởi những thách đố của thời đại chúng ta đã vậy, đôi khi còn bị hướng dẫn lệch lạc bởi những quan điểm thần học sai lầm, gây ra bởi tệ nạn đang sôi động lan truyền trong việc ngang nhiên bất phục tùng quyền giáo huấn của Giáo Hội .
“Về vấn đề liên quan đến Giáo Hội trong thời đại của chúng ta đây, làm sao chúng ta không ngậm ngùi trước tình trạng thiếu ý thức, thậm chí có những lúc nhiều Kitô hữu còn ưng theo việc phạm đến những quyền làm người căn bản, gây ra bởi những chế độ độc tài chuyên chế? Và chúng ta cũng không tiếc xót sao được, trong số những bóng tối nơi thời điểm của chúng ta, trách nhiệm mà rất nhiều Kitô hữu phải gánh chịu đối với những hình thức bất công và tẩy chay? Vấn đề được đặt ra là có bao nhiêu Kitô hữu thực sự hiểu biết và thực hành những nguyên tắc giáo huấn của Giáo Hội về xã hội.
“Cuộc khảo sát lương tâm cũng phải xét đến thái độ tỏ ra đón nhận thế nào đối với Công Đồng Vaticanô II, một tặng ân cao cả mà Thần Linh đã ban cho Giáo Hội vào cuối đệ nhị thiên niên. Lời của Thiên Chúa đã trở nên hốn sống của thần học và là nguồn hứng cho cả cuộc sống Kitô hữu, trọn đầy hơn nữa đến mức nào, theo như Dei Verbum (hiến chế về Mạc Khải)? Phụng vụ có được sống như là nguồn mạch và là thượng đỉnh của sinh hoạt thuộc về hội thánh không, theo giáo huấn của Sacrosanctum Concilium (hiến chế về Phụng Vụ)? Giáo hội học về việc hiệp thông được diễn giải trong Lumen Gentium (hiến chế về Giáo Hội) có được làm cho vững mạnh nơi Giáo Hội hoàn vũ cũng như nơi các Giáo Hội riêng biệt không? Những đặc sủng, những sứ vụ và những hình thức tham dự khác nhau của dân Thiên Chúa có được thể hiện chăng, một thể hiện không bị ảnh hưởng bởi ý hệ dân chủ và tính cách xã hội tương phản với quan niệm của Giáo Hội cũng như với tinh thần chân thực của Công Đồng Chung Vaticanô II? Một vấn đề quan trọng khác được nêu lên là bản chất của việc liên hệ giữa Giáo Hội và thế giới. Những chỉ dẫn của Công Đồng - được phác họa trong Gaudium et Spes (hiến chế Mục Vụ) và các văn kiện khác - về việc đối thoại một cách cởi mở, tôn trọng và thân tình, vẫn còn hiệu lực và mời gọi chúng ta phải dấn thân hơn nữa, tuy nhiên, nó phải được đi kèm với một nhận thức rõ ràng cùng với việc can đảm làm chứng cho chân lý” (khoản số 36).
Trong Tông Sắc Mầu Nhiệm Nhập Thể Incarnationis mysterium, ký ngày 29/11/1998, ở ngay đầu khoản số 11, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II còn nhắc lại vấn đề này như sau:
 ·        “Việc thanh tẩy ký ức kêu gọi mọi người hãy thực hiện một hành động của lòng can đảm và khiêm tốn trong việc nhìn nhận những lỗi lầm đã vấp phạm bởi những ai đã hay đang mang danh Kitô hữu”.
Chính ngài đã làm gương trong việc ngài kêu gọi mọi người làm ấy trong Ngày Thứ Tha 12/3/2000, Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay. Ngài đã nhân danh Giáo Hội chính thức công khai lên tiếng xin lỗi và thứ lỗi trong bài giảng của ngài, ở đoạn 3 và 4, như sau:
“Trước Chúa Kitô là Đấng vì yêu thương đã nhận lấy tội lỗi của chúng ta, tất cả chúng ta được mời gọi để thực hiện một cuộc sâu xa tra vấn lương tâm. Một trong những yếu tố đặc biệt của Đại Năm Thánh là những gì tôi đã diễn ta như là ‘việc thanh tẩy ký ức’ (Tông Sắc Mầu Nhiệm Nhập Thể, 11). Với tư cách là vị Thừa Kế Thánh Phêrô, tôi đã xin là ‘trong năm tình thương này, Giáo Hội, vững mạnh trong thánh đức là những gì Giáo Hội lãnh nhận từ Chúa, cần phải quì xuống trước nhan Thiên Chúa mà van xin ngài tha thứ cho những tội lỗi quá khứ và hiện tại của thành phần con cái nam nữ của mình’ (cùng nguồn vừa dẫn). Hôm nay, Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay, tôi cho rằng là một cơ hội thích hợp cho Giáo Hội, qui tụ lại trong tinh thần chung quanh Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, nài xin Chúa thứ tha cho các tội lỗi của tất cả mọi tín hữu.Chúng ta hãy thứ lỗi và hãy xin lỗi!” (khoản số 3)

“Chúng ta hãy thứ lỗi và hãy xin lỗi! Trong khi chúng ta chúc tụng Thiên Chúa là Đấng, vì tình yêu nhân hậu của Ngài, đã làm phát sinh trong Giáo Hội một mùa thua hoạch tuyệt vời về thánh đức, về nhiệt tình truyền giáo, về việc hoàn toàn dấn thân cho Chúa Kitô và cho tha nhân, chúng ta cũng không thể không nhìn nhận những bất trung với Phúc Âm gây ra bởi một số trong anh chị em của chúng ta, nhất là trong ngàn năm thứ hai. Chúng ta hãy xin Ngài tha thứ về những chia rẽ đã xẩy ra nơi thành phần Kitô hữu, về việc bạo lực đã được một số người sử dụng nhân danh sự thật, cũng như về những thái độ khinh thường và thù hằn đôi khi được tỏ ra đối với những tín đồ của các đạo giáo khác.

“Hơn thế nữa, chúng ta hãy xưng thú trách nhiệm của chúng ta là Kitô hữu đối với các sự dữ xẩy ra ngày nay.  Chúng ta phải tự hỏi mình về trách nhiệm của chúng ta đối với chủ nghĩa vô thần, với tình trạng khô khan nguội lạnh, với trào lưu tục hóa, với khuynh hương tương đối hóa đạo lý, với những thứ vi phạm đến quyền sống, chưa kể đến đối với thành phần nghèo ở nhiều xứ sở.

“Chúng ta hãy hạ mình xuống xin tha thứ cho việc góp phần của mỗi một người trong chúng ta đối với những thứ sự dữ ấy qua những hành động của mình là những gì bởi thế làm méo mó dung nhan của Giáo Hội.

“Đồng thời, khi chúng ta xưng thú tội lỗi của mình, chúng ta cũng hãy thứ tha tội lỗi do người khác phạm đến chúng ta. Vô số lần trong giòng lịch sử Kitô hữu đã phải chịu đựng khốn khó, đàn áp và bách hại vì đức tin của họ. Như thành phần nạn nhân của những thứ lạm dụng ấy đã tha thứ cho họ thì chúng ta cũng hãy thứ tha nữa. Giáo Hội hôm nay đây cảm thấy và luôn cảm thấy cần phải thanh tẩy ký ức về những biến cố đau buồn ấy cho khỏi mọi cảm giác đắng cay hay trả đũa. Nhờ đó, Năm Thánh mới trở nên cho mọi người một cơ hội thuận lợi để thực tình trở về với Phúc Âm. Việc chấp nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa phải dẫn đến chỗ quyết tâm thứ tha cho anh chị em của chúng ta và hòa giải với họ” (khoản số 4).

 Sau Thánh Lễ của Ngày Tha Thứ 12/3/2000 này trong Đền Thờ Thánh Phêrô, ở Huấn Từ Truyền Tin trưa hôm đó tại Quảng Trường Thánh Phêrô, vị giáo hoàng của Lòng Thương Xót Chúa dẫn giải thêm về ý nghĩa của tác động xin lỗi và thứ lỗi như sau:

“Anh Chị Em thân mến!

“1.       Trong tinh thần đức tin của Đại Năm Thánh, hôm nay, chúng ta đang cử hành Ngày Tha Thứ. Sáng hôm nay, tại Đền Thờ Thánh Phêrô, tôi đã chủ sự một hành động thống hối cảm kích và long trọng. Vào Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay này, các Vị Giám Mục và các Cộng Đồng Giáo Hội ở các phần đất khác nhau trên thế giới đã quì xuống trước nhan Thiên Chúa, nhân danh toàn thể dân Kitô giáo, nài xin Ngài thứ tha.

“Năm Thánh này là thời gian thanh tẩy: Giáo Hội là thánh, vì Chúa Kitô là Đấu và là Phu Quân của Giáo Hội; Thần Linh là hồn sống của Giáo Hội; Trinh Nữ Maria và các thánh là hiện thân đích thực nhất của Giáo Hội. Tuy nhiên, con cái của Giáo Hội cảm nhận được tội lỗi, thành phần làm cho Giáo Hội trở nên mờ tối, mất đi vẻ đẹp của Giáo Hội. Vì lý do ấy Giáo Hội không thôi nài xin Chúa thứ tha cho những tội lỗi của con cái mình.

“2.       Đây không phải là một phán đoán về trách nhiệm chủ quan của những người anh chị em chúng ta đã ra đi trước chúng ta: phán đoán này chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa mà thôi, Đấng, không giống như nhân loại chúng ta, ‘thấy được tâm trí’ (x Jer 20:12). Tác động của ngày hôm nay là việc thành tâm nhìn nhận tội lỗi gây ra bởi con cái của Giáo Hội trong quá khứ xa gần, và là một việc khiêm tốn xin Chúa thứ tha. Tác động này làm cho lương tâm bừng tỉnh lại, giúp cho Kitô hữu có thể tiến vào ngàn năm thứ ba một cách cởi mở hơn trước Thiên Chúa và dự án yêu thương của Ngài. 

“Trong khi chúng ta xin lỗi chúng ta cũng hãy thứ lỗi. Đó là những gì chúng ta hằng ngày nói khi chúng ta đọc kinh Chúa Giêsu dạy: ‘Lạy Cha… xin tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con’ (Mt 6:12). Đối với tất cả mọi tín hữu, chớ gì hoa trái của Ngày Thánh này là sự tha thứ lẫn cho nhau!

“Việc hòa giải xuất phát từ sự tha thứ. Đó là niềm hy vọng của chúng ta đối với hết mọi Cộng Đồng Giáo VHội, với tất cả mọi tín hữu trong Chúa Kitô cũng như đối với toàn thể thế giới
Với Chính Kẻ Giết Ngài

 “3.       Được thứ tha và sẵn sàng tha thứ như thế, Kitô hữu mới tiến vào ngàn năm thứ ba như là những chứng từ hy vọng khả tín hơn nữa. Sau những thế kỷ đầy những bạo lực và hủy hoại, nhất là thế kỷ thê thảm vừa qua, Giáo Hội cống hiến cho nhân loại, khi Giáo Hội vượt qua ngưỡng cửa của ngàn năm thứ ba, Phúc Âm của lòng thứ tha và của sự hòa giải, một điều kiện tiên quyết cho việc xây dựng hòa bình chân chính.

“Hãy trở thành những chứng nhân của niềm hy vọng! Đây cũng là đề tài cho Tuần Phòng tôi sẽ bắt đầu tối hôm nay với những vị cộng sự viên của tôi trong Giáo Triều Rôma. Giờ đây tôi xin cám ơn tất cả những ai muốn hỗ trợ tôi bằng lời cầu nguyện, và tôi xin Đức Mẹ là Mẹ của Lòng Thương Xót Chúa, giúp mọi người sống Mùa Chay được tốt đẹp”.

Qua những huấn dụ của vị giáo hoàng được Thiên Chúa sai đến để dẫn Giáo Hội của Con Ngài tiến vào ngàn năm thứ ba Kitô giáo qua ngưỡng cửa Đại Năm Thánh 2000, qua việc thiết tha tưởng niệm và cử hành Mầu Nhiệm Nhập Thể, chúng ta thấy ngài đã cùng với Giáo Hội chẳng những cử hành việc Thiên Chúa là Đấng đã bị con người xúc phạm ngay từ ban đầu qua nguyên tội lại chủ động đi hòa giải với loài người tội lỗi khi tự động sai Con Ngài là Lời Nhập Thể đến với con người, mà còn đáp ứng việc hòa giải của Thiên Chúa bằng cách thú nhận lỗi lầm của mình, xin Ngài tha thứ và thứ tha lẫn cho nhau, một việc hòa giải không phải chỉ trong nội bộ Giáo Hội có tính cách đại kết Kitô giáo, mà còn có tính cách liên tôn và tính cách nhân bản toàn cầu nữa.

Trong văn kiện “Ký Ức và Hòa Giải: Giáo Hội và Lỗi Lầm Quá Khứ” được soạn thảo bởi Ủy Ban Thần Học Quốc Tế dưới sự lãnh đạo và chuẩn nhận của ĐHY Tổng Trưởng Thánh Bộ Đức Tin Joseph Ratzinger, một văn kiện được phổ biến trên tờ L’Osservatore Romano ấn bản Anh ngữ ngày 12/3/2000 ở 8 trang đặc biệt giữa tờ báo, người ta thấy nội dung và mục đích của văn kiện này là để dẫn giải về nền tảng (thánh kinh, thần học, lịch sử, đạo lý, và mục vụ) hợp tình hợp lý cho việc hòa giải của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, như văn kiện này đã đề cập đến ở tiết đoạn 1.4:

“Như thế, một số vấn đề có thể được nhận diện như sau: Có thể nào lương tâm ngày nay lại cảm thấy ‘lỗi lầm’ về hiện tượng lịch sử riêng biệt như những Cuộc Thánh Chiến hay Vấn Đề Tòa Án Xử Lạc Giáo? Không phải là quá dễ dàng hay sao trong việc phán đoán con người ngày xưa với lương tâm ngày nay (như thành phần Luật Sĩ và Biệt Phái đã làm theo Phúc Âm Thánh Mathêu 23:29-32), như thể lương tâm luân lý hầu như là những gì cố định theo thời gian vậy? Trái lại, có thể nào chối bỏ là phán đoán về đạo lý bao giờ cũng khả dĩ, ở chỗ sự thật của Thiên Chúa cùng với những đòi hỏi về luân lý của sự thật này luôn giữ nguyên giá trị của nó?... Bởi thế, vấn đề trên hết đó là vấn đề làm sáng tỏ việc cần phải xin tha thứ, đặc biệt khi ngỏ với những nhóm người ngày nay, về những lỗi lầm trong quá khứ là những gì theo chiều hướng thánh kinh và thần học của vấn đề hòa giải với Thiên Chúa cũng như với tha nhân”.

Văn kiện được nghiên cứu kỹ lưỡng của một ủy ban gồm 7 nhà thần học có thế giá trên thế giới này, ở đầu tiết đoạn 1.1, còn nhận định tính cách độc nhất vô nhị của hành động của ĐTC GPII làm trong Đại Năm Thánh này như sau;

“Cho tới nay, không có một cuộc cử hành Năm Thánh nào đã thực hiện việc nhận thức theo lương tâm về bất cứ lỗi lầm nào thuộc quá khứ của Giáo Hội, hay về nhu cầu cần phải xin Thiên Chúa thứ tha cho việc làm trong quá khứ gần xa. Thật thế, trong suốt lịch sử của Giáo Hội, chưa từng có vấn đề Giáo Quyền xin tha thứ về những lỗi lầm đã qua. Các Công Đồng và các sắc chỉ của giáo hoàng đã áp dụng những việc chế tài cần phải có đối với những lạm dụng được cho là lầm lỗi nơi giáo sĩ và giáo dân, và là những lạm dụng đã được nhiều vị mục tử thành tâm cố gắng để sửa chữa. Tuy nhiên, những trường hợp được thẩm quyền giáo hội là Giáo Hoàng, các Vị Giám Mục hay các Công Đồng, công khai nhìn nhận những lầm lỗi hay những lạm dụng mà các vị cảm thấy có lỗi, thì hoàn toàn hiếm có…”
Tính Khôi Hài

 Ở đầu tiết đoạn 1.3, văn kiện dẫn giải việc làm quan trọng đầy ý nghĩa và cần thiết của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II còn phân tích nội dung của những gì ngài đã làm trong Ngày Tha Thứ như sau:

“Đức Gioan Phaolô chẳng những lập lại những bày tỏ hối tiếc về ‘những ký ức buồn đau’ đánh dấu lịch sử chia rẽ nơi thành phần Kitô hữu, như Đức Phaolô VI và Công Đồng Chung Vaticanô II đã làm (như ngài đã đề cập tới trong Thông Điệp Xin Cho Họ Hiệp Nhất Nên Một, khoản số 88, khoản ngài viết: ‘tôi xin hợp với vị tiền nhiệm Phaolô VI của mình để xin tha thứ về những gì chúng tôi phải chịu trách nhiệm đối với những điều ấy’, nhưng Đức Phaolô VI, khi mở đầu cho Khóa Họp 2 của Công Đồng Chung Vaticanô II, chỉ xin tha thứ về những lỗi lầm liên quan tới sự kiện chia rẽ Kitô giáo mà thôi), còn ngài lại nới rộng việc xin tha thứ cho nhiều biến cố lịch sử mà Giáo Hội hay các nhóm Kitô hữu đã dính líu vào ở những góc cạnh khác nhau (chẳng hạn, ngài đã xin lỗi những người Moravia khi phong thánh cho chân phước Jan Sarkander ở Cộng Hòa Tiệp Khắc ngày 21/5/1995; hay ngài xin lỗi những người Da Đỏ ở Mỹ Châu Latinh trong Sứ Điệp ngỏ cùng Dân Da Đỏ Mỹ Châu ngày 13/10/1992 trong chuyến tông du Santo Domingo, và xin lỗi cả những người Phi Châu bị lưu đầy làm nô lệ trong bài Huấn Từ của Buổi Triều Kiến Chung ngày Thứ Tư 21/10/1992; riêng với thành phần Phi Châu này ngài còn xin lỗi họ về cách thức họ đã bị đối xử nữa, trong bài diễn từ ở Yaoundé ngày 13/8/1985). Trong Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến (khoản 33-36), Đức Giáo Hoàng đã bày tỏ niềm hy vọng là Năm Thánh 2000 trở thành một cơ hội để thanh tẩy ký ức của Giáo Hội khỏi tất cả mọi hình thức ‘phản chứng từ và gương mù’ đã xẩy ra trong thời gian của thiên niên kỷ qua”.
   
Gioan Phaolo II Con Là Đá .

nguyenthuong.ctxl@gmail.com

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II GƯƠNG MẪU
SỐNG GIÁO HỘI MẦU NHIỆM, HIỆP THÔNG, SỨ VỤ
clip_image002[4]1. Đức Gioan Phaolô II một khuôn mặt siêu việt.
Hôm thứ sáu ngày 14/1/2011 Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI quyết định tôn phong Chân phước cho Đức Gioan Phaolô II vào ngày 1/5/2011, tức là 6 năm và 1 tháng, sau khi Đức Gioan Phaolô II qua đời. Hôm đó là Chúa nhật II Phục sinh, lễ kính Lòng Thương xót Chúa. Như thế Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI sẽ chủ sự lễ phong Chân phước cho chính vị tiền nhiệm của Ngài. Quyết định này đáp lại nguyện vọng của không biết bao nhiêu tín hữu là những người đã “phong thánh” cho Ngài ngay trong thánh lễ an táng tại quảng trường thánh Phêrô. Quyết định này dựa theo một phép lạ, mà hôm 14/1/2011 chính Đức Giáo hoàng đã cho công bố Sắc lệnh nhìn nhận rằng phép lạ đó là nhờ lời chuyển cầu của Đức cố Gioan Phaolô II. Phép lạ này xảy ra nơi một nữ tu, 2 tháng sau khi Đức Gioan Phaolô II qua đời (2/4/2005). Nữ tu này tên là Simon Pierre Normand, bị bệnh Parkinson hồi năm 2001, chị đã cầu nguyện với Đức Gioan Phaolô II xin Ngài chữa khỏi, và vào ngày 3/6/2005 chị đã hết bệnh, Hội đồng Y khoa của Bộ Phong Thánh đã đồng thuận rằng cuộc khỏi bệnh của chị nữ tu đó không thể giải thích được về mặt khoa học.
Trong 10 thế kỷ qua, đã không có Đức Giáo hoàng nào tôn vinh ngay lập tức người tiền nhiệm mình lên hiển thánh. Như thế Đức Gioan Phaolô II quả là vị Giáo hoàng hết sức đặc biệt. Như tờ báo WallStreet General đã gói ghém trong một câu vắn tắt: “Đức Gioan Phaolô II là một khuôn mặt siêu việt trong thế giới hữu hạn”. Thật vậy, nhiều vị lãnh đạo tinh thần trên thế giới đã có lời ca tụng về con người độc đáo này:
- Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị thủ lãnh tối cao của Phật giáo Tây Tạng nói rằng: quả thật Ngài có một ý chí và một quyết tâm giúp đỡ nhân loại về mặt tâm linh. Đó là điều tuyệt vời, là điều thiện hảo. Tôi biết rằng thật là khó khăn biết bao cho những nhà lãnh đạo theo đuổi những vần đề này.
- Mục sư Billy Graham cho rằng Đức Gioan Phaolô II sẽ đi vào lịch sử như một vị Giáo hoàng vĩ đại nhất trong thời đại tân tiến của chúng ta. Ngài là biểu tượng cho ý thức mạnh mẽ của toàn thế giới Kitô giáo.
- Mẹ Têrêsa Calcutta đã trả lời câu hỏi của Tuần báo Time khi tờ báo chọn Đức Gioan Phaolô II là “man of the year” và hỏi Mẹ về cảm nghĩ đối với Ngài. Mẹ trả lời trong bốn câu có nội dung như sau:
+ Ngài luôn được nâng đỡ bởi một đức tin sâu xa.
+ Luôn được nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện không ngừng.
+ Không hề sợ hãi nhờ một đức cậy không thể lung lay.
+ Luôn yêu mến Thiên Chúa cách thắm thiết.
- Ông Mikhail Gorbatchev người lãnh đạo cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản quốc tế, đã viết bài trong tờ Nữu ước Thời báo với đầu đề: Giáo hoàng người đối tác của tôi (my partner), trong đó ông viết: lúc này có thể nói rằng tất cả những gì đã xảy ra tại Đông Âu trong những năm gần đây sẽ không thể xảy ra được nếu không có những nỗ lực và vai trò vĩ đại của Giáo hoàng Gioan Phaolô II (năm 1993).
Nhiều tác giả lớn trên thế giới đã có điều kiện để viết những tác phẩm nổi tiếng về Đức Gioan Phaolô II, như Đức Hồng y Stephan Wyszynski có nói: “để viết về vị Giáo hoàng đương nhiệm, bạn phải có óc sáng tạo phong phú của một thi sĩ, tri thức của một triết gia, lòng kiên nhẫn của một vị thánh, sự khôn khéo của một tu sĩ Dòng Tên, kiến thức của một tác giả bách khoa từ điển, và trên hết là có sự tín nhiệm của các Hồng y, đặc biệt những vị đang lưu trú tại Vatican và đảm nhiệm những công việc hàng ngày của Giáo hội trong Giáo triều. Tất nhiên, nếu bạn biết Ngài thì sẽ còn giúp ích bạn nhiều hơn”. Các tác giả lớn đó khi viết về Đức Gioan Phaolô II đều có chung một nhận định là Ngài có hai khuynh hướng nổi bật, nếu xét bề ngoài dường như chúng đối nghịch nhau: với tín lý của Giáo hội bao gồm cả những khía cạnh luân lý đạo đức của con người, Ngài luôn tỏ ra hết sức bảo thủ; nhưng với những vấn đề xã hội, vị Giáo chủ của thế giới Công giáo lại tỏ ra vô cùng cấp tiến, luôn đứng ở vị trí tiên phong trong trận tuyến, chống lại cường quyền bạo lực để bảo vệ phẩm giá, quyền sống, và mọi quyền tự do căn bản của con người.
Phần tôi, chỉ là một độc giả bình thường, may mắn được thừa hưởng những công lao nghiên cứu và tài năng viết lách của các tác giả, nhờ đó mà biết được đôi chút về Đức Gioan Phaolô II và đem lòng yêu mến Ngài, nên tôi muốn dựa vào những tài liệu đó mà lượm lặt những gì trong tư tưởng và cuộc sống của Ngài, đã gây ấn tượng nhiều cho tôi, giúp tôi có thể noi gương bắt chước Ngài trong cuộc sống linh mục hôm nay,đặc biệt là sống Giáo hội mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ; bởi lẽ chính Đức Gioan Phaolô II là vị Giáo hoàng của Công đồng Vaticanô II, của lược đồ Giáo hội mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ. Trong ba bài tôi đã viết là: Tại sao học hỏi Giáo hội mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ; Học hỏi Giáo hội mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ để đối thoại với thế giới; Làm mới Giáo hội tại Việt Nam; tôi có dịp trình bày Đức Gioan Phaolô II như nhân vật chủ chốt, có công lớn trong việc khai triển và đem áp dụng lược đồ trên cho toàn Dân Chúa, đặc biệt các Tông huấn: Kitô hữu giáo dân, Ta ban cho các con những mục tử, Đời thánh hiến. Vì thế, nhân dịp lễ phong chân phước cho Ngài, tôi muốn chia sẻ cho các bạn đọc về Ngài, như là gương mẫu sống Giáo hội mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ một cách tuyệt vời.
2. Đức Gioan Phaolô II sống Giáo hội mầu nhiệm.
Giáo hội mầu nhiệm ở đây không được hiểu là một xã hội hoàn hảo giống như các nước trần gian khác do loài người thành lập, cũng không phải chỉ theo nghĩa là bí ẩn huyền bí, mà còn có nghĩa là một xã hội loài người do Thiên Chúa Ba Ngôi thiết lập vàclip_image004[4]hướng dẫn. Xã hội đó là Dân Thiên Chúa, là Thân mình Chúa Kitô, là Đền thờ của Chúa Thánh Thần, là một thực tại vừa có yếu tố nhân loại vừa có yếu tố thần linh, vừa hữu hình vừa vô hình, vừa còn những thiếu xót lỗi lầm, vừa được ơn thánh trợ lực để vươn lên trong thánh thiện, Giáo hội đó đang ở giữa thế gian, nhưng không thuộc về thế gian và đang lữ hành về quê trời. Do đó, sống Giáo hội mầu nhiệm, là sống như người Dân của Thiên Chúa, như người của Nước Thiên Chúa, như chi thể của Chúa Kitô, và đền thờ của Chúa Thánh Thần, sống thánh thiện như Thiên Chúa, đặt Thiên Chúa lên trên hết, vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người.
Đức Gioan Phaolô II đã nắm vững ý nghĩa sống Giáo hội mầu nhiệm là như vậy, nên không những đã hướng dẫn Giáo hội sống đúng theo đường lối Công đồng Vaticanô II đã chọn lựa, mà chính bản thân Ngài còn nêu gương cho mọi người một cách tuyệt vời trong suốt cuộc đời Ngài. Ngài đã sống thánh thiện bằng luôn gắn bó với Thiên Chúa, đặt Thiên Chúa lên trên tất cả mọi sự, vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người ta. Ngay từ khi còn trẻ, nhờ ảnh hưởng của mẹ, và sau là của người cha, Ngài đã hướng về đời sống đạo đức thánh thiện. Ước ao nên thánh đã bén rễ trong Ngài khi Ngài tập được thói quen cầu nguyện và chiêm niệm trong thời gian học trường của Dòng Kín. Rồi trước khi chịu phép cắt tóc, Ngài đã có ý định vào Dòng Carmélites, nhưng Đức Tổng giám mục không chấp thuận. Khi còn là đại chủng sinh, các bạn đã trêu chọc và ghi trên một tấm thiệp ghim vào cánh cửa phòng Ngài: Wojtyla vị thánh tương lai. Đến khi làm Giáo hoàng, chương trình Ngài làm việc 17 giờ một ngày thì 7 giờ dành cho cầu nguyện, chiêm niệm, dọn mình dâng lễ và cám ơn sau lễ. Trong đời mục vụ, Ngài tập trung vào Chúa Kitô. Trong bài giảng đầu tiên khi làm Giáo hoàng, Ngài nói: “Anh chị em đừng ngại đón Đức Giêsu và chấp nhận quyền lực của Người. Hãy mở toang cửa đến với Chúa Giêsu. Hãy mở tung những hạn chế của Nhà Nước trước quyền năng cứu độ của Người.” Trong chuyến đi đầu tiên ra khỏi Vatican đến Atxidi, Ngài nói: “Đức Giêsu là điều quan trọng nhất trên thế giới này”. Ngài cầu xin thánh Phanxicô rằng: “Hãy giúp chúng con để Đức Giêsu có thể là Con Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống cho mọi người trong thời đại chúng con”. Lần đầu tiên về quê hương Ba Lan của Ngài, Ngài nhắn nhủ: “không thể loại Đức Kitô ra khỏi lịch sử nhân loại ở bất cứ nơi nào trên thế giới này … loại trừ Đức Giêsu khỏi lịch sử nhân loại là một tội ác chống lại loài người”. Và Thông điệp đầu tiên của đời Giáo hoàng của Ngài là “Đức Giêsu Kitô Đấng cứu độ loài người”. Sống Giáo hội mầu nhiệm còn là sống trong Nước Thiên Chúa, trong Nhiệm thể Chúa Kitô, là mang trong mình hạt giống Nước Trời, và Kitô hữu phải tận tâm tận lực làm cho hạt giống ấy phát triển và đạt tới chỗ viên mãn. Vì thế Đức Gioan Phaolô II đã mạnh dạn tìm mọi sáng kiến làm cho Giáo hội và thế giới tốt đẹp hơn, chống lại mọi hình thức trần tục hoá, dầu do bất cứ thế lực nào, tư bản hay cộng sản; đồng thời Ngài cũng bảo vệ sự sống con người và bệnh vực mọi quyền lợi căn bản của con người: quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận …
Để sống Giáo hội mầu nhiệm như vậy, mỗi Kitô hữu cần được trợ lực bằng sức thiêng của Chúa, qua cầu nguyện và nhận lãnh các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, bởi vì mầu nhiệm Giáo hội có liên hệ chặt chẽ với Bí tích Thánh Thể: Giáo hội làm nên Thánh Thể và Thánh Thể làm nên Giáo hội. Thánh Thể chính là nguồn sức mạnh để Giáo hội luôn được thanh luyện và được đổi mới cho đúng bản chất mầu nhiệm của mình. Đức Gioan Phaolô II đã ý thức và cảm nghiệm được mối liên hệ chặt chẽ giữa Giáo hội và Thánh Thể, nên Ngài đã nêu gương một đời sống hiệp thông với Thánh Thể, vừa độc đáo vừa tuyệt vời, như ta sẽ bàn tới trong phần sau về sống Giáo hội hiệp thông. Sau hết, sống Giáo hội mầu nhiệm còn là sống mối tương quan nam nữ đúng đắn và tốt đẹp. Khi Ngài được bầu làm Giáo hoàng, các phóng viên đã sục xạo khắp thế giới những người đàn bà có thể là người tình, là vợ hay bạn gái của Karol Wojtyla, nhưng họ đã không tìm được ai cả, bởi vì làm gì có ai. Tuy nhiên báo chí cũng nhắc đến một nữ tiến sĩ triết học tên là Anna Têrêsa Tymyeniecka, người đã cùng Ngài viết cuốn sách “Con người hành động”, lúc Ngài còn đang là Hồng y. Khi làm việc với nữ tiến sĩ, Ngài cực kỳ khôn ngoan và làm chủ mình, luôn có cha thư ký riêng ở cùng. Bà tiến sĩ đã có nhận xét về Ngài rằng: “Sức mạnh lớn nhất ở Giáo hoàng, sức hấp dẫn đặc biệt này là giống như Chúa Giêsu”.
Tóm lại, Đức Gioan Phaolô II sống Giáo hội mầu nhiệm rất sâu sắc và hoàn hảo nên không lạ gì ngay trong lễ an táng Ngài, rất nhiều người đã nói tới việc phong thánh cho Ngài. Và chính Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã quyết định phong chân phước cho Ngài vào ngày 1/5/2011, nghĩa là 6 năm và một tháng sau khi Ngài qua đời. Đây là bằng chứng hùng hồn nhất xác nhận Ngài đã sống trọn vẹn ý nghĩa Giáo hội mầu nhiệm, sống đạo đức thánh thiện nêu gương cho toàn Dân Chúa và thế giới.
clip_image0063. Đức Gioan Phaolô II sống Giáo hội hiệp thông.
Chúng ta còn nhớ THĐGM đặc biệt năm 1985 do Đức Gioan Phaolô II triệu tập để duyệt lại việc thực thi giáo huấn của Công đồng Vaticanô II, đã nhận xét rằng: “khái niệm Giáo hội như mầu nhiệm tỏ ra khó hiểu đối với nhiều Kitô hữu”, và “ý niệm Giáo hội hiệp thông đã không thấm nhập vào Dân Kitô giáo”. Do đó chính Đức Gioan Phaolô II cùng với THĐGM, đặc biệt là các THĐGM tiếp theo, đã tìm cách đào sâu và giải nghĩa giáo huấn đó của Công đồng, giúp mọi thành phần Dân Chúa, giáo dân, giáo sĩ, tu sĩ, hiểu biết và thực thi trong bậc sống mình. Hiệp thông là ý tưởng nền tảng và trung tâm của các tài liệu Công đồng, do đó cần phải hiểu cho đầy đủ và rõ ràng, tránh mọi thiếu sót lệch lạc. Hiệp thông có nghĩa là hai bên hợp lại và trao đổi, thông truyền cho nhau. Giáo hội hiệp thông trước hết phải là hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi rồi mới tới hiệp thông với mọi người, nghĩa là phải theo chiều đứng và chiều ngang nữa, bởi vì chỉ khi có hiệp thông chiều đứng thì mới có hiệp thông chiều ngang thật. Hiệp thông luôn phải là ân sủng do Thiên Chúa trao ban cho mọi người qua các bí tích, rồi từ sự hiệp thông đó mà ta mới có thể hiệp thông với người khác đúng nghĩa, hiệp thông chiều ngang cần được đâm rễ sâu trong hiệp thông chiều đứng với Thiên Chúa. Như thế hiệp thông vừa có tính cách vô hình vừa có tính cách hữu hình. Ý thức được hiệp thông có ý nghĩa phong phú, đa dạng sâu sắc và quan trọng như vậy, Đức Gioan Phaolô II luôn củng cố cho bản thân Ngài, cũng như củng cố cho hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân sống hiệp thông với Thiên Chúa, và với Đức Maria. Không kể những giờ cầu nguyện, chiêm niệm, dâng thánh lễ hàng ngày, Ngài đã sống hiệp thông với Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể rất đặc biệt. Không những Ngài thấu hiểu mà còn cảm nghiệm, cảm mến, còn “sống” được những gì mà Thiên Chúa đã làm cho chúng ta qua Bí tích Thánh Thể. Ngài đã chia sẻ cho chúng ta kinh nghiệm quý giá của Ngài: “để sống phép Thánh Thể, cần phải dành nhiều thời gian thờ phượng trước Bí tích cực thánh, đó là kinh nghiệm hàng ngày của bản thân tôi, nhờ đó tôi kín múc được sức mạnh, nguồn an ủi và nâng đỡ” (Thông điệp Giáo hội từ Thánh Thể). Đây là một ví dụ: khi Ngài được Đức Giáo Hoàng Piô XII đề cử làm Giám mục phụ tá Tổng Giáo phận Krakov, và cho Đức Hồng Y Wyszynski biết Ngài sẵn sàng chấp nhận sự đề cử, thì nửa giờ sau trên đường về, Ngài tìm tới Tu viện của các nữ tu áo xám Ursuline. Ngài hỏi nữ tu ra mở cửa cho biết lối vào nhà nguyện rồi lẳng lặng bước nhanh tới trước bàn thờ, ném mình quỳ gập xuống. Một giờ, hai giờ, rồi ba giờ trôi qua. Các sơ lần lượt bước vào nhà nguyện quan sát rồi lặng lẽ bước ra. Đến giờ cơm tối, các nữ tu phát hiện vị linh mục đó chính là linh mục giáo sư Karol Wojtila, và quyết định mời cha dùng bữa, nhưng cha từ chối và tiếp tục ở lại nhà nguyện. Sơ Bề trên bước vào thấy cha vùi mặt vào hai bàn tay dường như đang chìm sâu vào một cuộc đối thoại trong thinh lặng với Thiên Chúa. Và như thế cha đã cầu nguyện trong suốt 8 tiếng đồng hồ liên tiếp rồi mới rời tu viện … Thực sự người ta có thể khám phá Thiên Chúa trong suy tư, và cũng có thể khám phá Thiên Chúa trên hai đầu gối, nghĩa là khi quỳ trước Thánh Thể để chiêm ngưỡng, cảm nghiệm, không nói gì cũng chẳng xin gì, chỉ yêu mến thôi. Có nhà thần học gọi đó là “Thần học bàn quỳ”, và Đức Gioan Phaolô II đã làm “Thần học bàn quỳ” trước Chúa ẩn mình hàng ngày, để rồi có thể trở thành “Tấm Bánh Được Bẻ Ra Cho Anh Em Mình” (xem Thánh Thể và Truyền giáo). Ngoài việc múc lấy sức thiêng cho bản thân, Ngài còn quan tâm đặc biệt giúp các linh mục sống hiệp thông với Chúa Giêsu. Trong suốt triều Giáo hoàng, hàng năm vào thứ năm Tuần Thánh và lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, ngày thánh hoá các linh mục, Ngài đều soạn thư gởi các linh mục để đề cao chức linh mục, và cổ võ các linh mục luôn sống thánh thiện đúng đắn với căn tính của mình, là Alter Christus, là hiện thân của Chúa Kitô. Ngoài ra Ngài còn quan tâm đến sự hiệp thông trong Giáo hội bằng tổ chức các THĐGM định kỳ hoặc đặc biệt, để giải quyết những vấn đề quan trọng như dạy giáo lý, đào tạo linh mục, truyền giáo… và cho soạn cuốn Giáo lý Công giáo mà Ngài coi là “một phương tiện có giá trị, có thẩm quyền để giúp Giáo hội được hiệp thông”. (xem Tông hiến Kho tàng đức tin).
Ngài còn đặc biệt lưu ý đến giới trẻ thế giới, chính Ngài khởi xướng Đại hội giới trẻ thế giới, giúp giới trẻ tụ họp để hiệp thông với nhau và với Chúa Kitô, cứ hai năm một lần ở một nước khác nhau. Đối với các Giáo hội đã ly khai khỏi Giáo hội, Ngài đã khiêm tốn nhận thiếu xót vì đã không tôn trọng đủ, và đối thoại để mong được Đại Kết, như với Giáo hội Chính thống và Tin lành. Đối với các tôn giáo khác như Phật giáo, Do thái giáo, Hồi giáo, Cao đài, Khổng giáo … Ngài đã có sáng kiến tổ chức hàng năm ngày các tôn giáo cầu nguyện cho hoà bình thế giới ở Atxidi.
clip_image008[4]Sau hết nói đến việc Đức Gioan Phaolô II hiệp thông với Chúa Giêsu thì không thể nào không nói tới việc Ngài hiệp thông với Đức Maria. Ngài là vị Giáo hoàng có nhiều liên hệ đặc biệt với Đức Mẹ trải dài suốt cuộc đời. Nhờ được hiểu biết lòng thành thực sùng kính Đức Maria của Thánh Grignion de Monfort, Ngài “thâm tín rằng sự tôn sùng Đức Mẹ Thiên Chúa cách chân chính thì đúng là qui hướng về Chúa Kitô, Là bám rễ sâu xa trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi cũng như trong mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Độ”. Khi làm Giáo hoàng, Ngài chọn khẩu hiệu Giáo hoàng là Totus Tuus: con tận hiến cho Mẹ. Trước chuyến công du đầu tiên vào đầu năm 1979 đến Mêhicô thuộc Châu Mỹ Latinh, đầy khó khăn và nguy hiểm đang chờ, những người tiễn chân Ngài ra máy bay lo ngại, Ngài đã nhắc lại khẩu hiệu Totus Tuus. Hai năm sau, ngày 13/5/1981 Ngài bị kẻ mưu sát bắn một loạt đạn vào bụng, đang khi gặp gỡ dân chúng ở quảng trường thánh Phêrô. Đức ông Dziwisz, thư ký của Ngài kể lại: “khi chở Ngài đi bệnh viện, Đức Giáo hoàng luôn nhắc lại: Maria Mẹ của con! Maria Mẹ của con. Cặp mắt nhắm nghiền”. Hôm đó là ngày kỷ niệm Đức Maria hiện ra ở Fatima lần đầu tiên 13/5/1917. Ngài đã thoát chết và cho biết rằng: “Một người nổ súng và một người khác lại hướng dẫn quỹ đạo đường đạn”. Năm 1982, Ngài đã hành hương đến Fatima vào ngày 13/5 để tạ ơn Đức Mẹ, và đã gắn viên đạn trúng ở bụng Ngài vào triều thiên bằng vàng và đặt trên đầu tượng Đức Mẹ. Đến năm 1992, Ngài lại phải nằm bệnh viện để mổ khối u trong ruột, Ngài đã xin đám đông đi hành hương cầu nguyện cho Ngài và nhắc lại rằng: “đối với Đức Mẹ Đồng Trinh con tận hiến cho Mẹ, với lòng tin tuyệt đối dưới sự che chở của Người”.
Tóm lại. Đức Gioan Phaolô II ý thức rất cao về địa vị và trách nhiệm của Ngài đối với Giáo hội và thế giới, nên Ngài đã tận tình sống hiệp thông với Chúa Kitô và Mẹ Maria, như để luôn múc được nguồn sức mạnh thiêng liêng, nhờ đó Ngài có thể hiệp thông với mọi người và có thể giúp mọi người hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với nhau. Ngài đã sống Giáo hội mầu nhiệm, mà mầu nhiệm này chính là hiệp thông với Chúa Kitô và với nhau. Việc Ngài hiệp thông với Chúa Kitô và với Đức Maria vừa là nghĩa vụ vừa là động lực để Ngài có thể thi hành sứ vụ mà Chúa Kitô trao phó, đó là dẫn đưa mọi người về hiệp thông với Thiên Chúa và với nhau. Hiệp thông để chu toàn sứ vụ, và thi hành sứ vụ nhằm để hiệp thông.
4. Đức Gioan Phaolô II sống Giáo hội sứ vụ.
Sự thánh thiện của Giáo hội cốt tại chỗ Giáo hội hiệp thông với Thiên Chúa, hiệp thông với Chúa Kitô như cành liền cây, hiệp thông dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, để nhận được sức thiêng hầu có thể nối tiếp sứ vụ mà Chúa Cha đã trao phó cho Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đó là sứ vụ cứu độ thế giới. Chính vì thế mà Giáo hội còn được gọi là Giáo hội sứ vụ, nghĩa là Giáo hội được Chúa Kitô sai đi loan báo Tin mừng cứu độ cho muôn dân. Chúng ta biết rằng phần giáo lý về Giáo hội mầu nhiệm và hiệp thông thì được Công đồng khai triển trong Hiến chế Ánh sáng muôn dân, còn phần về Giáo hội sứ vụ thì được trình bày trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng. Chúng ta cũng biết rằng chính THĐGM đặc biệt năm 1985 đã làm một suy tư thần học sâu sắc và cụ thể hơn về Giáo hội sứ vụ, để Giáo hội có thể đáp ứng những dấu chỉ của thời đại clip_image010hôm nay, dấu chỉ của một thế giới đang trần tục hoá vừa mau lẹ vừa mới lạ, cho nên báo cáo của THĐGM đặc biệt đã chú trọng hơn đến một số điểm cốt yếu mà Giáo hội hôm nay phải lưu tâm, đó là thần học thập giá,cập nhật hoá, hội nhập văn hoá, đối thoại với các tôn giáo và những người không tin, chọn lựa dành ưu tiên cho người nghèo và thăng tiến con người.
- Thần học thập giá. THĐGM đã khai triển về thần học thập giá vì THĐGM cho rằng: “hình như trong các khó khăn hiện tại, Thiên Chúa muốn dạy cho chúng ta một cách sâu sắc hơn giá trị, tầm quan trọng và chỗ đứng trung tâm của thập giá”. Và THĐ nghĩ rằng: “mối quan hệ giữa lịch sử nhân loại và lịch sử cứu độ phải được giải thích dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt qua”, bởi lẽ trong mầu nhiệm Vượt qua thì Thập giá và Phục sinh là một: “đường về Golgotha đưa ta tới vinh quang”. Nói đến thập giá, không phải là bi quan nhưng là thực tế của đức cậy Kitô giáo. Cuộc đời Đức Gioan Phaolô II gắn liền với thập giá, ngay từ thời thơ ấu, cũng như khi trưởng thành trong đất nước Ba Lan dưới quyền thống trị của Liên Xô, và suốt thời làm Giáo hoàng, Ngài phải đối đầu với nhiều thù nghịch trong khối tư bản cũng như khối cộng sản, ngay cả trong Giáo hội với những nhóm bảo thủ hoặc cấp tiến. Điển hình nhất là cuộc mưu sát Ngài ngày 3/5/1981. Ngài đã thoát chết nhưng nó để lại trong thân thể Ngài thương tích gây đau đớn cho đến khi qua đời.
- Cập nhật hoá. Giáo hội hôm nay đang sống trong một xã hội văn minh tiến bộ vượt bậc, nhiều ánh sáng nhưng cũng không ít bóng tối, với xu hướng duy vật vô thần, thực dụng hưởng thụ, rất khác với thời đại trước đây. Vì thế Giáo hội cần cập nhật hoá sứ vụ của mình để theo kịp đà tiến của thời đại. Đây là việc rất quan trọng và cần thiết. Cập nhật hoá không phải chỉ là thích nghi cách giả tạo, như “đi với ma phải mặc áo giấy”, cũng không phải là khép kín để tự vệ, để khỏi bị lây nhiễm. Muốn cập nhật hoá phải nghiên cứu, tìm tòi, “phải loại bỏ thẳng một sự thích nghi dễ dãi có thể đưa tới việc tục hoá Giáo hội. Đồng thời cũng phải loại bỏ một sự khép kín bất động trên mình của cộng đồng giáo hữu”. Nhưng đặc biệt phải “cởi mở truyền giáo nhằm đem lại ơn cứu độ toàn diện cho thế giới”. THĐGM giải thích rằng cởi mở truyền giáo là “tất cả mọi giá trị thực sự của con người không những được chấp nhận mà còn được mạnh mẽ bênh vực, chẳng hạn phẩm giá con người, các quyền căn bản, hoà bình, sự giải phóng khỏi sự áp bức, nỗi cơ cực, cảnh bất công”. Đức Gioan Phaolô II đã luôn tìm cách cập nhật hóa sứ vụ của Ngài, sao cho đáp ứng nhu cầu mới của Giáo hội và của thế giới, một thế giới đang gây nên nhiều thách đố về đức tin, về luân lý … Ngài đã cập nhật hoá Giáo hội nhờ việc cổ võ học hỏi giáo huấn về Giáo hội mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ; rồi hướng dẫn cho các bậc sống giáo dân, giáo sĩ, tu sĩ sống theo giáo huấn đó cho đúng căn tính của mình. Cập nhật hoá trong việc soạn giáo lý và dạy giáo lý cho thích hợp với tâm lý mỗi lứa tuổi theo nội dung mới là đặt Chúa Kitô làm trung tâm. Cập nhật hoá trong việc truyền giáo, chú ý tới việc đi đến với mọi người để gặp gỡ đối thoại và làm chứng cho họ bằng đời sống thánh thiện. Ngài nhấn mạnh đến việc làm chứng bằng đời sống và rất quý mến các thánh tử đạo cũng như các thánh khác. Ngài muốn phong thánh thật nhiều để tôn vinh các Kitô hữu chứng nhân. Trong lịch sử 2000 năm, Giáo hội chỉ phong thánh cho 3000 vị, thì nguyên trong triều Giáo hoàng của Ngài, Ngài đã phong thánh hơn 1000. Ngài còn cập nhật hoá kinh Mân côi bằng soạn thêm Năm sự Sáng để Kinh Mân côi là Kinh thực sự tóm tắt Tin mừng.
- Hội nhập văn hoá. Đây cũng là một cách để cập nhật hoá sứ vụ truyền giáo. Hội nhập văn hoá, theo THĐGM, là việc thay đổi thâm sâu các giá trị văn hoá đích thực của người mình truyền giáo, làm cho các giá trị ấy hội nhập vào Kitô giáo, và cũng giúp cho Kitô giáo ăn rễ sâu vào các văn hoá, sao cho mọi người sống Tin mừng như sống văn hoá của mình vậy. Đức Gioan Phaolô II coi hội nhập văn hoá là đòi hỏi cấp bách để Phúc âm hoá trong thời nay, và bản thân Ngài đã đi tiên phong nêu gương cho Giáo hội về hội nhập văn hoá. Ngài là vị Giáo hoàng chiếm kỷ lục về thực hiện các chuyến công du đến 129 quốc gia, để vừa cập nhật hoá sứ vụ, vừa hội nhập văn hoá với các dân tộc. Ngài nói được 10 thứ tiếng và cố gắng nói cả mấy câu tiếng Việt Nam: Chúc mừng Giáng sinh. Ngài quan tâm đến từng dân tộc, chú ý từng vấn đề riêng tư của họ, tìm hiểu bản sắc của từng địa phương. Chẳng hạn: Ngài đồng ý đội bất cứ một trong các số mũ lạ nào nhân dân tặng: mũ nồi của sinh viên, mũ phớt rộng vành của người Mêhicô, mũ làm bằng lông chim của người da đỏ … Tại Phi Châu, Ngài mặc bộ quần áo bằng da dê và đứng trong lúc nắm chặt cái giáo của vị trưởng bộ lạc …
- Đối thoại với các tôn giáo và những người không tin. THĐGM nhận định rằng “Thiên Chúa có thể dùng cuộc đối thoại giữa người Kitô giáo và người ngoài Kitô giáo hay cả những người không tin, như con đường để thông ban sự sung mãn của ân sủng”. Cho nên ý thức về sứ vụ Giáo hội phải loan báo Tin mừng cho muôn dân, Đức Gioan Phaolô II đã luôn tìm dịp đến với những người thuộc các tôn giáo bằng đối thoại. Kết quả cụ thể Ngài đã có một thông cáo chung với Giáo hội Tin lành Lutêrô về “công chính hoá”, hoà giải với nhiều Giáo hội Chính thống … Trước đây Giáo hội coi các tôn giáo khác đều là “đạo rối” và không cần quan tâm đến; nay Giáo hội tìm cách liên lạc, “phân biệt hay dở, tôn trọng những gì tốt đẹp và sẵn sàng cộng tác trong các việc hữu ích cho con người”. Với những người không tin, Ngài là một nhà thần học và triết học, Ngài tôn trọng tự do của họ; Ngài biết rằng đối thoại với người vô thần hay duy vật về đức tin và luân lý là cực kỳ khó khăn, nhưng Ngài tìm cách đối thoại với họ về quyền sống của con người, của mỗi người, “bởi lẽ quyền được bảo đảm sự sống là cốt lõi phát minh ra các quyền khác kể cả quyền tự do”. Thông điệp đầu đời Giáo hoàng của Ngài một nửa nói về Chúa Kitô, một nửa nói về con người, Ngài tuyên bố rằng “con người là con đường của Giáo hội”.
- Dành ưu tiên cho người nghèo và thăng tiến con người. Sau Công đồng Vaticanô II, Giáo hội ý thức hơn về sứ vụ phục vụ người nghèo, kẻ bị áp bức, những người sống bên lề xã hội … và ngoài cái nghèo vật chất, Giáo hội còn phải chú ý đến sự thiếu tự do và thiếu các của cải thiêng liêng, coi đây là một hình thức nghèo khổ, nhất là khi tự do tôn giáo bị sức mạnh trần thế tiêu diệt. Vì thế, Giáo hội phải thực thi sứ mênh tiên tri của mình để tố cáo mọi hình thức nghèo khổ và áp bức, và còn phải bày tỏ sự hiệp thông với các anh chị em đang bị bắt bớ vì đức tin hay vì cổ võ cho công lý nữa. Cho nên sứ vụ cứu độ cần phải được hiểu như một sứ vụ có tính toàn diện hay toàn vẹn, nghĩa là không phải chỉ có tính cách thiêng liêng, nhưng bao gồm cả sự thăng tiến con người trong lãnh vực trần thế nữa. Điều này Giáo hội tại Việt Nam hôm nay cần phải thấu triệt và ghi nhớ. Đức Gioan Phaolô II đã nêu gương cho cả Giáo hội trong sứ vụ này. Ngài đã công du khắp năm châu, đi tới đâu Ngài cũng đòi hỏi mọi người phải thăng tiến con người bằng tôn trọng nhân phẩm, nhân quyền, bằng dành ưu tiên cho người nghèo, người bị gạt ra bên lề xã hội. Năm 1935, sau khi Staline đã dẹp xong những “trở lực” cuối cùng trên con đường xây dựng chủ nghĩa cộng sản tại Nga, các giới thân cận của ông cho ông hay rằng họ lo ngại về phản ứng của Đức Giáo hoàng. Nhưng Staline đã ngạo nghễ hỏi móc họ rằng: Giáo hoàng có bao nhiêu sư đoàn? Sau này Đức Gioan Phaolô II đã giúp cho mọi người có một câu trả lời thật minh bạch là: Giáo hoàng hôm qua, hôm nay cũng như mãi mãi, không bao giờ dựa vào vật chất, binh đội, hay vũ khí tối tân, mà chỉ cậy nhờ vào tâm tình yêu thương, tín thác nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng là nguồn sức mạnh làm tiêu tan tất cả mọi sự ác trên cõi đời này. Năm 1989 người ta đã chứng kiến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Ba Lan ngày 6/4/1989; 5 tháng sau, bức tường ô nhục Bá Linh bị triệt hạ ngày 10/11/1989; và 2 năm sau, sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô (1991) … Vậy ai thắng ai ? Thắng bằng gì ?
Tóm lại, sứ vụ mà Chúa Cha đã trao cho Chúa Con thực hiện, và Chúa Con là Đức Giêsu Kitô đã sai Giáo hội đi vào thế giới để nối tiếp sứ vụ của Ngài, là sứ vụ cứu độ bằng tình yêu thương, sứ vụ phải qua thập giá để thăng tiến con người, sao cho không còn cảnh người dùng bạo lực quyền thế để áp bức bóc lột người. Sứ vụ đầy gian lao đau khổ nhưng lại tràn ngập ánh sáng vinh quang mà Đức Gioan Phaolô II đã đảm nhận.
Để kết
Chúng ta phải cảm tạ Thiên Chúa Ba Ngôi vì đã quan phòng cho Giáo hội có được Công đồng Vaticanô II, qui tụ các nhà thần học và triết học, cùng với các vị chủ chăn, vâng theo Chúa Thánh Thần hướng dẫn để thấu hiểu chương trình của lòng Chúa thương xót, nhận biết Chúa Kitô là trung tâm của chương trình cứu độ, thấy rõ được Giáo hội là gì, thế giới và con người là gì, Giáo hội có sứ vụ gì với thế giới và con người; nhờ đó đã chọn lược đồ Giáo hội mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ để làm mới bộ mặt Giáo hội hầu có thể cứu độ thế giới hôm nay.
Chúng ta cũng phải cảm tạ Thiên Chúa Ba Ngôi đã ban cho Giáo hội ở thời chúng ta một vị chủ chăn sáng suốt và nhiệt tâm, tự bản thân đi bước trước để thực thi các giáo huấn của Công đồng. Và khi biết Dân Chúa chưa hiểu rõ để áp dụng thì Ngài đã triệu tập THĐGM đặc biệt để giải thích và hướng dẫn. Ngài luôn hiệp thông mật thiết với Chúa Kitô trong Thánh lễ và chầu Thánh Thể, hết lòng yêu mến Mẹ Maria qua việc lần chuỗi Mân côi, nhờ đó Ngài múc được sức thiêng để chu toàn sứ vụ đối với thế giới và con người. Trong đời Giáo hoàng của Ngài, Chúa Giêsu đã ban cho Ngài vinh dự được vác thập giá qua cuộc bị mưu sát, nhưng Đức Maria đã cứu Ngài thoát chết để Ngài tiếp tục sứ vụ cho đến ngày 2/4/2005, lễ Lòng Thương xót Chúa, Ngài mới vào cõi vĩnh hằng. Cuộc đời đạo đức thánh thiện của Ngài, với các biến cố do bàn tay Chúa và Đức Mẹ can thiệp cách khác thường, cũng như mọi việc Ngài đã thực hiện trong suốt triều Giáo hoàng, đã khiến mọi người phải tôn vinh Ngài là vị Giáo Hoàng có nhiều kỷ lục. Ở đây chỉ xin nêu một số kỷ lục:
· clip_image012Phong cho 1310 chân phước, 469 hiển thánh.
· Ban chức Hồng Y cho 201 vị.
· Ban hành 14 Thông điệp, 13 Tông huấn, 11 Tông hiến, 42 Tông thư.
· Viết 6 cuốn sách.
· Công du hơn 129 quốc gia, nói hơn 10 thứ tiếng.
· Đón tiếp 226 thủ tướng các nước, và 16.700.000 khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới.
· Đám lễ tang của Ngài có 140 Hồng y đồng tế, 13 Vua, 43 Tổng thống, 80 Thủ tướng tới dự. Hơn một triệu người sắp hàng trong 3 ngày, sẵn sàng chờ 16 tiếng đồng hồ để được viếng xác Ngài.
Và trên hết mọi người đồng thanh coi Ngài là một vị thánh. Chính Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã cầu nguyện cuối bài giảng lễ an táng là: “xin Ngài hãy chúc phúc cho chúng con từ cửa sổ Nhà Cha trên trời”.
Rồi tới đây ngày 1/5/2011 Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI sẽ phong chân phước cho vị Giáo hoàng tiền nhiệm của Ngài một cách mau chóng kỷ lục. Tất cả đều chứng tỏ Thiên Chúa, Giáo hội và mọi người thiện chí đều quý mến gương mẫu trổi vượt của Ngài trong việc Giáo hội sống mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ.
Lạy Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, xin giúp các Kitô hữu Việt Nam chúng con, hàng giám mục, hàng linh mục, hàng tu sĩ và giáo dân, luôn cầu nguyện và dõi theo gương mẫu của Ngài để thực sự sống Giáo hội mầu nhiệm, hiệp thông , sứ vụ.
Ant. Nguyễn Mạnh Đồng
Linh mục giáo phận Cần Thơ

nguyenthuong.ctxl@gmail.com

LỄ GIỖ LẦN THỨ 6 ĐGH GIOAN PHAOLÔ II


Lễ giỗ lần thứ 6 ĐGH Gioan Phaolô II


VATICAN - Thứ bảy 2-4-2011 là lễ giỗ lần thứ 6 ĐGH Gioan Phaolô II. Đây là lễ giỗ lần cuối cùng trong đó các tín hữu còn cầu nguyện cho ngài, vì từ ngày 1-5 tới đây, sau lễ phong chân phước, các tín hữu sẽ chính thức được phép cầu khẩn sự chuyển cầu của Đức cố Giáo Hoàng.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho Đài Vatican, ĐHY Angelo Comastri, Giám quản Đền thờ Thánh Phêrô kiêm Tổng Đại diện của ĐTC tại thành Vatican, nói: “Chúng ta phải nhận rằng chính lúc Đức Gioan Phaolô II qua đời, dân Chúa đã xác tín rằng một vị thánh vừa về trời. Vả lại, trong lễ an táng trọng thể gần 1 tuần sau đó, ngày 8-4-2005, ĐHY Joseph Ratzinger, niên trưởng Hồng y đoàn, đã khẩn cầu phúc lành của Đức Gioan Phaolô II từ cửa sổ của trời cao, theo một nghĩa nào đó, ngài đã coi Đức cố Giáo Hoàng là vị thánh rồi. ĐHY Ratzinger nói: “Thưa Đức Thánh Cha, xin chúc lành cho chúng con từ cửa sổ trời cao!”. Với lễ phong chân phước tới đây, trực giác của dân Chúa được củng cố bằng một nghi thức long trọng và chính thức của Đức Thánh Cha”.

Trong cuộc phỏng vấn, ĐHY Comastri cũng nhận định: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một vị Giáo hoàng được vui mừng tôn phong vị tiền nhiệm của mình là Chân phước. Chắc chắn đây sẽ là một cảm xúc ngoại thường đối với ĐGH Bênêđictô XVI, nhưng cũng là một sự chắc chắn về tinh thần! Giờ đây, từ trời cao, Đức Gioan Phaolô II phù hộ những bước đường của người kế nhiệm và củng cố người trong những thách đố mà Giáo Hội phải đương đầu. Trong những diễn văn đầu tiên, ĐTC đương kim đã nói: “Tôi dường như vẫn nghe tiếng nói của ngài nói với tôi: “Đừng sợ!”, lời mời gọi ấy, mệnh lệnh mà Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II gửi đến toàn thế giới, tới các tín hữu Kitô rải rác trên hoàn cầu. “Anh chị em đừng sợ!”: giờ đây chắc chắn từ trời cao, ngài cũng nói với cả Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI trong thời điểm bi thảm này của lịch sự, trong lúc biển cả lịch sử dường như đang nổi ba đào. Bám chắc vào Chúa Giêsu, dưới cái nhìn của Mẹ Maria, chúng ta có thể tiến qua sóng gió bão táp này của lịch sử, chắc chắn đạt tới bến của Thiên Chúa” (RG 1-4-2011).

Mặt khác, Hiệp hội Papaboys ở Roma lên tiếng mời gọi các bạn trẻ trên thế giới đến dự lễ Phong Chân phước cho Đức Gioan Phaolô II vào ngày 1-5 tới đây vì không thiếu chỗ.
Hôm 31-3-2011, Cô Loredana Corrao, phát ngôn viên Hiệp hội Papaboys tuyên bố: “Các bạn hãy đến Roma để dự lễ Phong Chân phước cho Đức Gioan Phaolô II, vì vẫn còn nhiều chỗ”.
Hiệp hội này, ngay từ sau khi có tin về ngày phong chân phước cho Đức cố Giáo Hoàng, đã dấn thân giúp đỡ và cung cấp các dịch vụ cho các hội viên và bạn hữu để trú ngụ tại Roma và vùng phụ cận trong dịp lễ phong chân phước.

Ngoài ra, ngày 5-4 tới đây sẽ có một cuộc họp báo tại Phòng Báo chí về tường trình về việc chuẩn bị lễ Phong Chân phước. Lên tiếng trong dịp này, có ĐHY Agostino Vallini, Giám quản Giáo phận Roma, Đức ông Liberio Andreatta, Phó Chủ tịch Cơ quan Hành hương Roma, và Đức ông Marco Frisina, Giám đốc Văn phòng Phụng vụ thuộc Toà Giám quản Roma.

Báo chí Italia ra ngày 27-3 vừa qua cho biết nhiều người Nhật đã huỷ bỏ việc giữ chỗ khách sạn ở Roma để dự lễ phong chân phước vì có cuộc động đất và nạn sóng thần vừa qua; cũng có những người Mỹ huỷ chương trình đi Roma dự lễ vì sợ hậu quả của cuộc chiến tranh ở Lybie.

Ông Giuseppe Roscioli, Chủ tịch Liên hiệp các Khách sạn ở vùng Roma, tuyên bố với Hãng Thông tấn Pháp AFP rằng các khách sạn bị một loạt các vụ huỷ bỏ việc giữ chỗ vì những lý do trên đây. Theo ông, nếu chiến tranh tại Lybie kéo dài, có nhiều du khách Mỹ và Á châu sẽ không dám đến vùng ven Địa Trung Hải.



G. Trần Đức Anh OP

nguyenthuong.ctxl@gmail.com

Hotline : 072 90 4000

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Radio Mẹ Hằng Cứu Giúp