Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010

Sứ điệp nhân Ngày Hòa bình Thế giới, 1 tháng Giêng 2011




Sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI
nhân Ngày Hòa bình Thế giới, 1 tháng Giêng 2011
Tự do tôn giáo, đường dẫn đến hòa bình
1. Đầu năm mới, tôi muốn gửi đến mọi người và từng người lời chúc an vui, thịnh vượng, và trên tất cả, là lời chúc bình an. Năm vừa kết thúc, thật đáng buồn, lại được đánh dấu bằng sự bách hại, phân biệt đối xử, bằng những hành động đáng sợ của bạo lực và bất khoan dung đối với tôn giáo.
Tôi đặc biệt nghĩ đến mảnh đất Irak yêu quý đang trên đường tiến đến sự ổn định và hòa giải hằng được mong đợi biết bao, lại tiếp tục diễn ra cảnh bạo lực và khủng bố. Vẫn đang hiện lên trong kí ức những nỗi đau khổ gần đây của cộng đồng Kitô hữu, và đặc biệt, cuộc tấn công đê hèn nhắm vào nhà thờ Chính tòa Đức Mẹ hằng Cứu giúp của Công giáo nghi lễ Syri tại Bagdad, vào ngày 31-10 vừa qua, làm chết 2 linh mục và hơn 50 tín hữu khi họ đang họp nhau cử hành Thánh lễ. Lại còn những cuộc tấn công khác vào những ngày tiếp theo, nhắm vào các nhà riêng, gây ra nỗi sợ hãi nơi cộng đồng Kitô giáo, khiến nhiều người trong cộng đồng muốn di tản, hòng tìm những điều kiện sống tốt hơn. Chắc chắn rằng tôi cũng như toàn thể Hội Thánh luôn ở bên những anh chị em ấy. Tình cảm này được diễn tả cụ thể trong Thượng Hội đồng giám mục đặc biệt về Trung Đông mới đây. Thượng Hội đồng đã gửi đến các cộng đoàn Công giáo tại Irak và khắp Trung Đông sự khích lệ anh chị em sống hiệp thông với nhau và tiếp tục cống hiến một chứng từ can trường về đức tin tại những vùng đất này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Chính phủ đang tìm cách làm giảm bớt sự đau khổ của những anh chị em này bằng tình nhân đạo và tôi kêu gọi các tín hữu Công giáo cầu nguyện cho những anh chị em trong đức tin của mình đang hứng chịu bạo lực và không khoan dung, và thể hiện tình liên đới của mình với những anh chị em ấy. Trong bối cảnh này, tôi cảm thấy một cơ hội đặc biệt sống động để chia sẻ với tất cả anh chị em một vài suy nghĩ về tự do tôn giáo, con đường dẫn tới hòa bình. Thật đau lòng khi phải nói lên, tại một số nơi trên thế giới, không thể tuyên xưng và tự do thể hiện tôn giáo của mình, mà không gặp nguy hiểm cho mạng sống và tự do của bản thân mình. Tại những nơi khác, bề ngoài xem ra lặng lẽ hơn đồng thời thành kiến cũng như sự chống đối xem ra tinh vi hơn nhắm vào các tín hữu và những biểu tượng tôn giáo. Cho đến thời điểm hiện tại, các Kitô hữu là nhóm tôn giáo bị đàn áp nhiều nhất vì niềm tin của mình. Nhiều người bị xúc phạm hàng ngày và thường xuyên sống trong sợ hãi chỉ vì mưu tìm sự thật, niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô và đưa ra lời kêu gọi chân thành hãy công nhận quyền tự do tôn giáo. Không thể chấp nhận những điều đó vì chúng cho thấy một sự xúc phạm đến chính Thiên Chúa và đến phẩm giá con người, hơn nữa, là một mối đe dọa đối với an ninh và hòa bình, và điều này ngăn cản việc thực hiện sự phát triển thực sự con người toàn diện [1].
Vì thế chính trong tự do tôn giáo mới nhận ra được biểu hiện có ý nghĩa đặc trưng về con người, biểu hiện này làm cho con người có thể tổ chức cuộc đời của bản thân và đời sống của xã hội vâng theo Thiên Chúa: trong ánh sáng của Thiên Chúa sẽ hiểu được đầy đủ về căn tính, ý nghĩa và mục đích của nhân vị. Từ chối hoặc hạn chế một cách độc đoán quyền tự do này có nghĩa là đang duy trì một cái nhìn giản lược về con người; cầm hãm vai trò công cộng của tôn giáo, nghĩa là tạo ra một xã hội bất công, vì nó không hợp với bản chất thực sự của con người, và điều này có nghĩa là phủ định nền hòa bình đích thực và lâu dài của toàn thể gia đình nhân loại.
Vì vậy tôi kêu gọi mọi người nam cũng như nữ có thiện chí hãy canh tân tinh thần dấn thân nhằm xây dựng một thế giới trong đó mọi người được tự do tuyên xưng tôn giáo hoặc niềm tin của mình, và sống tình yêu của mình cho Thiên Chúa với tất cả trái tim, tất cả tâm hồn và với tất cả tinh thần (x. Mt 22, 37). Đó là tâm tình gợi cảm cảm hứng và định hướng cho Sứ điệp nhân Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 44 này, với chủ đề: Tự do tôn giáo, đường dẫn tới hòa bình. 
Quyền thánh thiêng được sống và có đời sống tinh thần
2. Quyền tự do tôn giáo bắt nguồn trong chính phẩm giá của con người [2], không được bỏ qua và cũng không được bỏ quên bản chất siêu việt của phẩm giá ấy. Thiên Chúa dựng nên người nam và người nữ theo hình ảnh của Ngài và giống Ngài (x.St 1, 27). Đó là lý do tại sao mỗi người có quyền thánh thiêng là được sống toàn vẹn gồm cả phương diện tinh thần. Không nhận ra bản thể tinh thần của mình, không mở ra cho sự siêu việt, rút vào trong chính bản thân mình, con người sẽ không thể tìm được lời giải đáp cho câu hỏi từ trái tim mình về ý nghĩa cuộc sống và đạt đến những giá trị và các nguyên tắc đạo đức bền vững. Vì vậy cũng sẽ không gặt hái được những kinh nghiệm về tự do đích thực và xây dựng một xã hội công bình [3].
Kinh Thánh, hòa với kinh nghiệm riêng của chúng ta, cho thấy giá trị sâu xa về phẩm giá con người: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân” (Tv 8, 4-7 ).
Trước thực tế cao cả của bản chất con người, chúng ta có thể trải nghiệm chính niềm kinh ngạc của tác giả Thánh vịnh. Thực tế đó được biểu lộ như mở ra cho Mầu nhiệm, như khả năng tra vấn trong tận sâu thẳm về chính mình và về nguồn cội của vũ trụ, như một âm vang nội tâm vọng đến tình yêu cao cả của Thiên Chúa, khởi đầu và cùng đích mọi sự, mọi người và tất cả mọi dân tộc [4]. Phẩm giá siêu việt của con người là một giá trị cốt lõi của nền minh triết Do Thái-Kitô giáo, mà nhờ lý trí, đã được mọi người nhận ra. Phẩm giá này, được hiểu như một năng lực vượt khỏi tính vật chất của bản thân và đi tìm chân lí, phải được nhìn nhận là sự Thiện phổ quát, cần thiết cho việc xây dựng một xã hội hướng đến sự thành toàn và viên mãn của con người. Sự tôn trọng các yếu tố thiết yếu của nhân phẩm con người, chẳng hạn quyền sống và quyền tự do tôn giáo, là một điều kiện cho tính hợp pháp của luân lý trong mọi chuẩn mực xã hội và pháp lý. 
Tự do tôn giáo và tôn trọng lẫn nhau 
3. Tự do tôn giáo là nguồn gốc của tự do đạo đức. Thật vậy, việc mở ra cho sự thật và sự thiện, mở ra cho Thiên Chúa, đã cắm rễ trong bản chất con người, mang lại phẩm giá trọn vẹn cho mỗi người và bảo đảm cho sự tôn trọng giữa mọi người với nhau một cách trọn vẹn. Đó là lý do tại sao phải hiểu tự do tôn giáo không chỉ là không bị cưỡng bức, mà trước hết phải là khả năng định đọat sự lựa chọn của mình theo sự thật.
Có một mối liên hệ không thể phá vỡ giữa tự do và sự tôn trọng, bởi, “luật luân lý đòi hỏi mọi người và mọi nhóm xã hội, khi thực hiện quyền của mình, phải tính đến các quyền của người khác, nghĩa vụ của mình đối với người khác và đối với lợi ích chung của mọi người [5].
Loại tự do thù nghịch với Thiên Chúa hoặc dửng dưng đối với Ngài sẽ dẫn đến phủ nhận chính bản thân tự do và không bảo đảm sự tôn trọng đầy đủ đối với tha nhân. Cái ý chí chỉ tin tưởng triệt để vào bản thân mình thì không thể tìm ra sự thật, sự thiện và không còn những lý lẽ khách quan cũng như động cơ để hành động, trừ khi có những lợi ích nhất thời và ngẫu nhiên, ý chí ấy không có “căn tính” để giữ gìn và để xây dựng thông qua những lựa chọn thực sự tự do và có ý thức. Vì vậy, ý chí ấy không thể yêu cầu sự tôn trọng từ phía “những ý chí” khác vốn cũng bị tách khỏi bản thể sâu xa của mình, rồi cho rằng mình “có lý”, hoặc cũng chẳng cần một chút “có lý” nào. Cái ảo tưởng cho rằng có thể tìm thấy trong chủ nghĩa tương đối về đạo đức là chìa khóa cho việc sống chung hòa bình, thực tế chỉ là nguồn gốc của sự phân hóa và phủ nhận phẩm giá con người. Bây giờ mới hiểu sự cần thiết phải nhận ra hai chiều kích trong cùng một con người: chiều kích tôn giáo và chiều kích xã hội. Về vấn đề này, không thể nào cho rằng các tín hữu “cần phải bị tước một phần con người của họ – phần niềm tin – để thành người công dân tích cực, chẳng bao giờ cần phải chối bỏ Thiên Chúa thì mới được hưởng các quyền của mình” [6].
Gia đình, trường dạy tự do và hòa bình 
4. Nếu tự do tôn giáo là đường dẫn đến hòa bình, thì giáo dục tôn giáo là một tuyến đường được dành ưu tiên cung cấp cho thế hệ mới khả năng nhận ra tha nhân là anh em, chị em, để đồng hành và hợp tác với nhau mà làm cho mọi người cảm thấy đều là thành viên của gia đình nhân loại, trong đó không ai bị loại trừ. 
Được thiết lập trên nền tảng hôn nhân, biểu hiện của sự kết hiệp mật thiết và bổ túc cho nhau giữa người nam và người nữ, trong ý nghĩa này, gia đình là trường học đầu tiên đào tạo và phát triển xã hội, văn hóa, đạo đức và tinh thần cho trẻ em vốn luôn luôn phải tìm thấy nơi người cha, người mẹ là những nhân chứng đầu tiên về một cuộc sống hướng tới việc đi tìm chân lý và tình yêu của Thiên Chúa. Chính các bậc làm cha làm mẹ luôn luôn phải được tự do, không bị cản trở, với tinh thần trách nhiệm, để truyền lại cho con cái di sản của mình về đức tin, về các giá trị và về văn hóa. Gia đình, tế bào trước hết của xã hội loài người, chính là môi trường đào tạo đầu tiên cho các mối quan hệ hài hòa thuộc mọi cấp độ trong đời sống chung của con người, quốc gia và quốc tế. Chúng ta tìm thấy ở đây (tức gia đình – ND) con đường phải đi với sự khôn ngoan để xây dựng một yếu tố làm nên xã hội vững bền và mang tính liên đới, để chuẩn bị cho người trẻ biết nhận lấy trách nhiệm của mình trong cuộc sống, giữa một xã hội tự do, trong tinh thần hiểu biết lẫn nhau và yêu chuộng hòa bình.
Di sản chung 
5. Có thể nói, trong số các quyền và tự do mang tính nền tảng, bắt nguồn từ phẩm giá con người, tự do tôn giáo có một địa vị đặc biệt. Khi quyền tự do tôn giáo được công nhận, phẩm giá con người được tôn trọng trong chính căn nguyên của nó, thì phong hóa (ethos) và những định chế của các dân tộc được vững mạnh. Ngược lại, khi tự do tôn giáo bị khước từ, khi việc tuyên xưng tôn giáo hay đức tin bị ngăn cản và khi việc sống đúng với tôn giáo, niềm tin cũng như phẩm giá con người bị xúc phạm, thì như vậy, là đã đe dọa công lý và hòa bình, nền tảng của trật tự xã hội, vốn được xây đắp dưới ánh sáng của Sự thật Tối hậu và Sự thiện Tối cao. 
Trong ý nghĩa này, tự do tôn giáo cũng là một thành tựu của nền văn minh chính trị và pháp luật. Đây là điều chủ yếu: mọi người đều có thể tự do tuyên xưng và bộc lộ tôn giáo hoặc niềm tin của mình, một cách riêng tư hay cùng với cộng đoàn, nơi công cộng hay chốn riêng tư, bằng lời giảng dạy hay trong thực hành, qua các ấn phẩm, trong sự thờ phượng và trong việc tuân giữ các nghi lễ. Con người không thể bị ngăn cản nếu muốn gia nhập một tôn giáo khác hoặc không còn muốn theo đạo nào nữa. Trong lĩnh vực này, cần có các quy định quốc tế làm điển hình và mẫu mực chính yếu cho các quốc gia, không cho phép bất kỳ sự vi phạm nào đối với tự do tôn giáo, trừ khi có yêu cầu hợp pháp của trật tự công cộng theo sự đòi hỏi của công lý [7]. Như vậy quy định quốc tế công nhận các quyền có bản chất tôn giáo đều cùng một quy chế như nhau, như quyền sống và quyền tự do cá nhân, bởi vì các quyền này thuộc về cốt lõi của nhân quyền, những quyền phổ quát và tự nhiên mà luật pháp của con người không bao giờ được chối bỏ.
Tự do tôn giáo không phải là di sản độc quyền của các tín đồ, nhưng thuộc về toàn thể gia đình các dân tộc trên trái đất. Nó là yếu tố không thể thiếu trong một Nhà nước pháp quyền, không thể từ chối quyền này mà lại không đồng thời làm ảnh hưởng đến tất cả các quyền và tự do căn bản, vì tự do tôn giáo là sự tổng hợp và là đỉnh điểm của các quyền và sự tự do. Đó là “giấy quỳ” cho phép kiểm tra sự tôn trọng tất cả các quyền con người khác” [8]. Nó thúc đẩy việc thực hiện các khả năng mang tính con người nhất, bằng cách tạo ra những tiền đề cần thiết cho việc thực hiện sự phát triển toàn diện, trong từng chiều kích đều nhất loạt có liên quan đến tính toàn thể của con người [9].
Chiều kích công cộng của tôn giáo 
6. Tự do tôn giáo, như tất cả mọi tự do, đều xuất phát từ lĩnh vực cá nhân, được thực hiện trong tương quan với tha nhân. Tự do mà không có tương quan là thứ tự do chưa hoàn tất. Tự do tôn giáo không giới hạn trong chiều kích cá nhân nhưng thực hiện trong cộng đồng mà con người tham gia, và trong xã hội, điều này phù hợp với hữu thể tương giao của con người và với tính chất công cộng của tôn giáo.
Việc đặt trong tương quan là một thành tố quan trọng của tự do tôn giáo, thúc đẩy các cộng đoàn tín hữu thực hiện sự liên đới vì công ích. Nơi chiều kích cộng đoàn, mỗi người là một tồn tại duy nhất và vô cùng độc đáo, tất cả đều đang viên mãn và thành toàn. 
Không thể phủ nhận sự đóng góp của các cộng đồng tôn giáo đem lại cho xã hội. Nhiều tổ chức từ thiện và văn hóa thể hiện vai trò tích cực của các tín hữu trong đời sống xã hội. Quan trọng hơn nữa là sự đóng góp của tôn giáo về đạo đức trong lĩnh vực chính trị. Những đóng góp này không thể bị gạt bỏ hoặc ngăn cấm, nhưng phải được coi là một đóng góp có giá trị để thúc đẩy lợi ích chung. Trong viễn tượng này, cần phải nói đến chiều kích tôn giáo của nền văn hóa, được dệt qua nhiều thế kỷ, thông qua những đóng góp của tôn giáo đối với xã hội và đặc biệt đạo đức. Một chiều kích như vậy không hề bao gồm bất cứ sự phân biệt đối xử nào đối với những người không cùng chia sẻ niềm tin, nhưng tăng cường sự gắn kết xã hội, hội nhập và liên đới. 
Tự do tôn giáo, sức mạnh của tự do và văn minh: những nguy cơ của việc sử dụng tự do như một công cụ
7. Sử dụng tự do tôn giáo như một công cụ nhằm che đậy những lợi ích thầm kín, chẳng hạn như lật đổ trật tự đã được thiết lập, chiếm đoạt các nguồn tài nguyên hoặc duy trì quyền lực của một phe nhóm, có thể gây ra thiệt hại to lớn cho xã hội. Chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa giáo điều, những hành xử trái với phẩm giá con người không bao giờ có thể coi là hợp với công lý, dù núp dưới danh nghĩa tôn giáo. Niềm tin tôn giáo không thể biến thành công cụ hoặc dùng vũ lực áp đặt. Điều này đòi hỏi các quốc gia và cộng đồng khác nhau không bao giờ quên rằng tự do tôn giáo là một điều kiện cho việc tìm kiếm sự thật và sự thật không áp đặt bằng bạo lực nhưng bằng “chính bản thân sức mạnh của sự thật” [10]. Trong ý nghĩa này, tôn giáo là một lực lượng tích cực và có sức thúc đẩy trong việc xây dựng xã hội dân sự và chính trị. 
Làm sao phủ nhận được sự đóng góp của các tôn giáo lớn trên thế giới vào sự phát triển của nền văn minh? Việc chân thành tìm kiếm Thiên Chúa càng giúp tôn trọng hơn đối với phẩm giá con người. Các cộng đồng Kitô hữu, với di sản của mình về những giá trị và nguyên tắc, đã đóng góp lớn trong việc giúp con người và các dân tộc ý thức về căn tính và phẩm giá của họ, cũng như chinh phục các định chế dân chủ, khẳng định con người có những quyền lợi và các nghĩa vụ tương ứng.
Ngày nay, trong một thế giới ngày càng toàn cầu hóa, các Kitô hữu được mời gọi, không chỉ có trách nhiệm dấn thân về đời sống dân sự, kinh tế và chính trị, mà còn làm chứng bằng tình yêu và niềm tin của mình, cống hiến bằng sự đóng góp quý báu vào cuộc dấn thân khó khăn nhưng không kém phấn khởi cho công lý, cho sự phát triển con người toàn diện và xếp đặt một cách đúng đắn các thực tại nhân sinh. Loại bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống công cộng là loại bỏ một không gian có ý nghĩa sống còn, mở ra cho siêu việt. Không có kinh nghiệm nền tảng này, khó lòng đưa xã hội hướng đến các nguyên tắc đạo đức phổ quát, và cũng khó thực hiện được các quy định quốc gia và quốc tế, trong đó các quyền và tự do hoàn toàn được công nhận để thực thi, như đã được đề ra làm mục tiêu của bản Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 - nhưng đáng tiếc các mục tiêu này đã không được lưu tâm hoặc đã bị phản bác.
Một vấn đề của công lý và nền văn minh: chủ nghĩa giáo điều và sự thù địch đối với các tín hữu gây thiệt hại cho tính thế tục tích cực của các nhà nước 
8. Việc xác định và lên án mọi hình thức của chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa giáo điều tôn giáo, cũng phải khơi lên sự phản kháng mọi hình thức thù địch đối với tôn giáo, giới hạn vai trò công cộng của các tín hữu trong đời sống dân sự và chính trị. 
Không thể quên chủ nghĩa giáo điều tôn giáo và chủ nghĩa thế tục là những hình thức phản ánh và là biểu hiện cực đoan của sự khước từ chủ nghĩa đa nguyên hợp pháp và nguyên tắc của tính thế tục. Cả hai, trên thực tế, tuyệt đối hóa cái nhìn giản luợc và phiến diện về con người, trong trường hợp thứ nhất, thì thúc đẩy những hình thức của chủ nghĩa toàn trị tôn giáo, và trong trường hợp thứ hai, thì đứng về phía chủ nghĩa duy lý. Một xã hội muốn áp đặt, hoặc ngược lại, muốn bác bỏ tôn giáo bằng bạo lực, không những là một xã hội bất công đối với con người và Thiên Chúa, mà còn bất công với chính nó. Trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa liên quan đến con người trong mọi chiều kích tự nhiên và tinh thần, Thiên Chúa kêu gọi nhân loại đáp lại bằng tự do và trách nhiệm, với tất cả trái tim và toàn bộ cuộc sống của mình, trong tư cách cá nhân cũng như cộng đồng. Bản thân xã hội, như một biểu hiện của con người và tất cả mọi chiều kích cấu thành con người, phải sống và tổ chức cách nào thúc đẩy việc mở ra cho sự siêu việt. Đó là lý do tại sao luật lệ và các định chế xã hội không thể hình thành mà lại không lưu tâm chiều kích tôn giáo của công dân hoặc đến mức hoàn toàn bỏ qua chiều kích ấy. Thông qua hoạt động dân chủ của các công dân ý thức về ơn gọi cao cả của mình, luật pháp và các định chế này sẽ phản ánh một cách đúng đắn về bản chất đích thực của con người và giúp con người thể hiện chiều kích tôn giáo của họ. Vì tôn giáo không do Nhà nước tạo ra, nên không thể bị Nhà nước điều khiển mà phải được thừa nhận và tôn trọng.
Khi hệ thống pháp luật ở các cấp, quốc gia và quốc tế cho phép hoặc chấp nhận chủ nghĩa cuồng tín tôn giáo hoặc bài tôn giáo, thì hệ thống ấy đã không chu toàn nhiệm vụ của mình trong việc bảo vệ và thúc đẩy công lý và quyền của mọi người. Những thực tại này không thể bị phó mặc cho sự tùy tiện của cơ quan lập pháp hoặc đa số, bởi vì, như Cicero đã dạy, công lý không phải chỉ là làm luật và áp dụng luật, nó còn là một cái gì hơn nữa. Công lý còn bao hàm sự công nhận mỗi người đều có phẩm gia của họ [11], do đó, nếu tự do tôn giáo không được bảo đảm và được diễn ra theo đúng bản chất của nó, thì phẩm giá con người bị xúc phạm và tổn thương, có nguy cơ rơi vào sự thống trị của các thần tượng và các lợi ích nhất thời được tuyệt đối hóa. Tất cả những điều đó có nguy cơ đưa xã hội đến chủ nghĩa toàn trị về chính trị và tư tưởng đề cao công quyền một cách quá đáng, trong khi đó, những quyền tự do lương tâm, tư tưởng và tôn giáo lại bị hạ thấp và ngăn chặn, làm như các quyền tự do này có thể tranh chấp với công quyền vậy.
Đối thoại giữa các tổ chức dân sự và tôn giáo 
9. Di sản các nguyên tắc và các giá trị được thể hiện qua lòng mộ đạo chân chính làm nên sự phong phú của các dân tộc và phong hóa của họ. Di sản này trực tiếp nói với lương tâm và lý trí mọi người nam nữ, nhắc nhở họ về mệnh lệnh phải hoán cải về đời sống luân lý, khuyến khích họ ra sức trau giồi nhân đức và đến với nhau bằng yêu thương, qua dấu chỉ của tình huynh đệ, như người trong cùng gia đình nhân loại rộng lớn [12].
Tôn trọng tính thế tục tích cực của các định chế nhà nước, cĩng phải thừa nhận chiều kích công cộng của tôn giáo. Hướng đến mục tiêu như vậy, cần phải tiến hành cuộc đối thoại chân thành giữa các định chế dân sự và tôn giáo nhằm phát triển con người toàn diện và xây dựng sự hòa hợp trong xã hội.
Sống trong tình yêu và sự thật 
10. Trong thế giới toàn cầu hóa với đặc điểm xã hội ngày càng đa sắc tộc và đa tôn giáo, các tôn giáo lớn có thể là một nhân tố quan trọng của sự hiệp nhất và bình an cho gia đình nhân loại. Từ những xác tín tôn giáo riêng của mình và từ sự tìm kiếm mang tính lý trí đối với công ích, các tín hữu được mời gọi dấn thân với tinh thần trách nhiệm vào bối cảnh tự do tôn giáo. Giữa những nền văn hóa tôn giáo khác nhau, nếu việc từ chối bất cứ điều gì trái với nhân phẩm của mọi người nam nữ là cần thiết, thì ngược lại, biết đón nhận những gì là tích cực đối với việc cùng chung sống về mặt dân sự, là cả một kho báu. Không gian công cộng mà cộng đồng quốc tế dành cho các tôn giáo và cho những giải pháp tôn giáo đưa ra về một “cuộc sống tốt đẹp” sẽ giúp tạo ra một thước đo chung về sự thật và sự thiện, cũng như sự đồng thuận về luân lý, đó là những gì cần thiết cho việc cùng chung sống trong công lý và hòa bình. Những nhà lãnh đạo các tôn giáo lớn, với vai trò, tầm ảnh hưởng và thẩm quyền trong cộng đồng của mình, là những người đầu tiên được mời gọi tôn trọng và đối thoại với nhau. 
Đối với các Kitô hữu, qua niềm tin vào Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô mà được mời gọi sống như anh em, gặp nhau trong Giáo Hội và cộng tác vào việc xây dựng thế giới, trong đó, mọi người và các dân tộc sẽ “không còn làm điều ác và dùng bạo lực […] vì sự nhận biết Thiên Chúa tràn đầy khắp xứ sở như nước phủ lòng biển cả” (Is 11,9).
Đối thoại là cùng nhau tìm kiếm
11. Đối với Giáo Hội, sự đối thoại giữa tín đồ các tôn giáo khác nhau là một phương thế quan trọng để hợp tác với tất cả các cộng đồng tôn giáo hướng đến công ích. Bản thân Giáo Hội không hề khước từ những gì chân thật và thánh thiện trong các tôn giáo khác. “Giáo Hội chân thành tôn trọng những cách thức hành động và cách sống, những giới luật và giáo lý, dù có nhiều điểm khác biệt với những gì Giáo Hội minh định và đề nghị, nhưng vẫn thấy chúng mang lại một tia sáng chân lý soi cho mọi người” [13].
Con đường như đã nêu ra không phải là con đường của chủ nghĩa tương đối hay chủ nghĩa tổng hòa tôn giáo. Vì thế Giáo Hội “loan báo và xác định mình phải không ngừng loan báo Đức Kitô là ‘Đường, là sự Thật và là sự Sống’ (Ga 14, 6), trong Đức Kitô con người tìm thấy một cuộc sống tôn giáo toàn vẹn và Thiên Chúa đã hòa giải mình với mọi sự trong Đức Kitô” [14]. Tuy nhiên điều đó không loại trừ sự đối thoại và cùng nhau đi tìm sự thật trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống, bởi vì, như Thánh Tôma Aquinô đã thường nói: “Mọi sự thật, dù được bất cứ ai nói lên, cũng đều đến từ Chúa Thánh Thần” [15].
Trong năm 2011 sẽ diễn ra lễ kỷ niệm 25 năm Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Hòa bình, được Đấng đáng kính Gioan Phaolô II triệu tập vào năm 1986 tại Assisi. Trong dịp đó, những nhà lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới đã cho thấy tôn giáo là một nhân tố của liên đới và hòa bình, chứ không phải là nguyên nhân gây chia rẽ và xung đột. Ký ức về kinh nghiệm này là một lý do để hy vọng vào tương lai tất cả mọi tín đồ đều cảm thấy và thực sự trở thành những người kiến tạo công lý và hòa bình.
Chân lý đạo đức trong chính trị và ngoại giao 
12. Chính trị và ngoại giao cần phải xem xét, thừa nhận và khẳng định các di sản đạo đức và tinh thần do các tôn giáo lớn trên thế giới mang lại là những chân lý, nguyên tắc và giá trị phổ quát mà nếu phủ nhận chúng, thì đồng thời cũng chối bỏ chính phẩm giá con người. Nhưng trong thực tế, thế nào là cổ võ sự thật đạo đức trong giới chính trị và ngoại giao? Cổ võ chân lý đạo đức chính là hành động có trách nhiệm, xuất phát từ nhận thức khách quan và đầy đủ về các sự kiện, nghĩa là hủy bỏ cấu trúc tư tưởng chính trị vốn muốn thay thế chân lý và phẩm giá con người, đồng thời lại khuyến khích những giá trị giả, mượn danh nghĩa hòa bình, phát triển và quyền con người; cổ võ chân lý đạo đức còn là việc thúc đẩy sự dấn thân không ngừng nhằm xây dựng luật pháp mang tính tích cực, dựa trên những nguyên lí của luật tự nhiên [16]. Tất cả những điều ấy là cần thiết và phù hợp với sự tôn trọng phẩm giá và giá trị con người, đã nhận được sự bảo đảm của các dân tộc trên trái đất qua Hiến chương của Liên Hiệp Quốc năm 1945, trong đó trình bày các giá trị và những nguyên tắc đạo đức mang tính phổ quát, làm cơ sở tham khảo cho các chuẩn mực, định chế, các hệ thống của sự chung sống trên bình diện quốc gia và quốc tế.
Vượt trên oán thù và định kiến 
13. Mặc dù có những bài học lịch sử và sự cam kết của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trên toàn cầu và tại địa phương, những nỗ lực của các tổ chức phi chính phủ và mọi người nam nữ thiện chí đang hằng ngày xả thân bảo vệ các quyền và tự do cơ bản, nhưng ngày nay vẫn còn thấy trên thế giới diễn ra những cuộc khủng bố, kỳ thị, bạo lực, và không khoan dung liên quan đến tôn giáo. Đặc biệt tại châu Á và châu Phi, nạn nhân chủ yếu chính là những người thuộc các nhóm thiểu số tôn giáo, họ bị cấm không được tự do tuyên xưng niềm tin, không được thay đổi tôn giáo. Việc ngăn cấm này diễn ra bằng cách đe dọa, vi phạm các quyền cơ bản và tự do, xâm phạm tài sản, cho đến việc tước đọat quyền tự do cá nhân và cả sinh mạng của họ nữa. 
Ngoài ra – như tôi đã nói trước đây – còn có những hình thức thù địch tinh vi đối với tôn giáo, mà ở các nước phương Tây, có lúc được thể hiện qua việc chối từ lịch sử và những biểu tượng tôn giáo nói lên căn tính và văn hóa của đa số người dân. Những thái độ này thường nuôi dưỡng lòng hận thù và các thành kiến không đúng với cách nhìn trong sáng và quân bình của chủ nghĩa đa nguyên và tính thế tục của các định chế, chưa kể những thái độ này có thể ngăn cản các thế hệ trẻ tiếp xúc với di sản tinh thần vô giá của đất nước mình. 
Tôn giáo được bảo vệ thông qua việc bảo vệ các quyền và tự do của những cộng đồng tôn giáo. Những nhà lãnh đạo các tôn giáo trên thế giới và các vị hữu trách tại các quốc gia cần canh tân cam kết của mình nhằm cổ võ và bảo vệ tự do tôn giáo, đặc biệt để bảo vệ các nhóm thiểu số tôn giáo vốn không cho thấy có mối đe dọa nào đối với căn tính của đa số, mà ngược lại, họ đại diện cho một cơ hội đối thoại và làm cho nền văn hóa của nhau được thêm giàu có! Bảo vệ họ là cách tốt nhất củng cố lòng nhân từ, thái độ cởi mở, lòng tốt và tinh thần tương trợ, nhờ đó, bảo vệ các quyền và tự do cơ bản trong mọi lĩnh vực và ở tất cả mọi nơi trên thế giới.
Tự do tôn giáo trên thế giới 
14. Giờ đây, tôi gửi đến các cộng đồng Kitô hữu đang bị bức hại, phân biệt đối xử, hứng chịu bạo lực và không khoan dung, đặc biệt ở châu Á, châu Phi, Trung Đông và nhất là tại Thánh Địa, nơi được Chúa tuyển chọn và chúc phúc. Khi nhắc lại tình phụ tử và lời cầu nguyện luôn dành cho họ, tôi cũng yêu cầu tất cả các nhà hữu trách phải hành động nhanh chóng để ngăn chặn bất cứ hành vi ức hiếp đối với người Kitô hữu sống trong những khu vực này. Xin cho các môn đệ của Chúa Kitô, đang phải đối mặt với nghịch cảnh hiện tại, không để mất lòng can đảm, vì việc làm chứng cho Tin Mừng đang và sẽ luôn là dấu chỉ phản kháng! 
Chúng ta hãy suy ngẫm những lời của Chúa Giêsu: “Phúc cho những ai sầu khổ, vì họ sẽ được an ủi. Phúc cho những ai đói khát sự công chính, vì họ sẽ được thỏa lòng [...] Phúc cho các con khi người ta nhục mạ, bách hại các con và nói xấu đủ điều chống lại các con vì Thầy. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng các con thật lớn lao ở trên trời” (Mt 5, 5-12). Vì vậy chúng ta hãy canh tân “lời cam kết sống bao dung và tha thứ, như đã cầu xin cùng Chúa trong kinh Lạy Cha, bằng cách tự đặt cho mình điều kiện và mức độ cần có để đáng được thương xót như đã nài xin: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (Mt 6, 12) [17]. Không thể thắng bạo lực bằng bạo lực. Hãy cất lên tiếng kêu đau thương với đức Tin, đức Cậy và qua việc làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa! Tôi cũng mong mỏi phương Tây, đặc biệt châu Âu, hãy chấm dứt sự thù địch và thành kiến chống lại các Kitô hữu, những người muốn định hướng cuộc sống của mình theo các giá trị và nguyên tắc được thể hiện trong Tin Mừng. Mong sao châu Âu hòa giải với nguồn gốc Kitô giáo của mình, đó là điều cần thiết nếu muốn nhận ra được vai trò lịch sử của châu Âu trong quá khứ, hiện tại và tương lai; như thế châu Âu sẽ cảm nghiệm được công lý, sự hòa hợp và hòa bình, bằng cách vun trồng một cuộc đối thoại chân thành với tất cả các dân tộc.
Tự do tôn giáo, đường dẫn đến hòa bình 
15. Thế giới cần Thiên Chúa. Thế giới cần những giá trị đạo đức và tinh thần, phổ quát và riêng biệt. Tôn giáo có thể mang lại những đóng góp quý báu trong việc tìm kiếm những giá trị đó, nhằm xây dựng một trật tự xã hội có công lý và hòa bình, trên bình diện quốc gia và quốc tế.
Hòa bình là một ơn Chúa ban và cũng là một kế hoạch phải được thực hiện, nhưng chẳng bao giờ đạt được trọn vẹn.Một xã hội đã giao hòa với Thiên Chúa thì tiến đến gần hòa bình hơn, và hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh, cũng không đơn giản là kết quả của một ưu thế quân sự hay kinh tế, càng không phải là những thủ đoạn dối trá hoặc các dàn xếp khôn khéo. Hòa bình, trên thực tế, là kết quả của một quá trình thanh luyện và nâng cao văn hoá, đạo đức và tinh thần của mỗi người và của từng dân tộc, một quá trình mà trong đó nhân phẩm con người được tôn trọng đầy đủ. Tôi mời gọi tất cả những ai muốn trở thành người xây dựng hòa bình, đặc biệt những người trẻ, hãy lắng nghe tiếng nói đang vang lên trong lòng mình, để tìm thấy nơi Chúa, điểm quy chiếu vững bền cho cuộc chinh phục sự tự do đích thực, sức mạnh vô tận đem lại hướng đi và một tinh thần mới cho thế giới, giúp thế giới không mắc phải những sai lầm trong quá khứ. Vị Tôi tớ Chúa Phaolô VI, người có trí tuệ và tầm nhìn xa, người đã đặt ra Ngày Thế giới Hòa bình, đã dạy rằng: “Trước hết phải trang bị cho Hòa bình những loại vũ khí mới, khác với những thứ dùng để giết hại và hủy diệt con người. Phải trang bị trước tiên bằng vũ khí đạo đức, đem lại sức mạnh và uy tín cho công pháp quốc tế, bắt đầu bằng việc tuân giữ các hiệp ước” [18].
Tự do tôn giáo thực sự là vũ khí của hòa bình, đảm nhận một sứ mệnh lịch sử và tiên tri. Quả thật, nó đề cao giá trị và làm sinh hoa kết quả những phẩm chất sâu xa nhất và những khả năng giúp con người thay đổi thế giới và làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Tự do tôn giáo giúp nuôi dưỡng niềm hy vọng vào một tương lai được sống trong công lý và hòa bình, cả khi đứng trước những bất công nặng nề và cảnh khốn cùng về vật chất và tinh thần. Mong sao mọi người và mọi xã hội, thuộc mọi mức độ và mọi nơi trên thế giới, đừng trì hoãn việc thực thi tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hòa bình!

Vatican, ngày 8 tháng 12 năm 2010. 
Bênêđictô XVI, Giáo hoàng





nguyenthuong.ctxl.photodays@picasaweb.com

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Google+ Badge

Hotline : 01212 90 4000

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Đã xảy ra lỗi trong tiện ích này

Radio Mẹ Hằng Cứu Giúp